ru0uchat

Archive for the ‘văn hoá sống’ Category

Mỗi một vị lãnh đạo đều không thích người ta tính toán quyết định của mình. Sau này phải nhớ mọi việc là báo cáo, chỉ báo cao không thôi là được, đừng đưa ra yêu cầu. Lãnh đạo nhắc đến thì nói theo, đừng làm lãnh đạo cảm thấy em quá có năng lực.
———-
bám sát cấp trên, bắt lớn thả nhỏ, kiềm chế bản thân.
———-
“Làm người khó khăn nhất là kiềm chế, một khi không thể kiểm soát nổi bản thân thì rất khó thành đại sự”.
———-
Người có thói quen làm theo ý mình sẽ không có tiền đồ trong thể chế.
———-
Mặc kệ quan điểm của Hồng Mại (1 học giả nổi tiếng thời Tống) đúng hay sai, cũng không quản Vương Hi Chi có làm bộ làm tịch hay không. Kết hợp với cách thu phục lòng người của Tào Mã ….
Hai cái điển cố này đều lấy ra từ “Dung Trai tùy bút” của Hồng Mại. Cái đầu tiên nói chính là Vương Hi Chi nhờ thư pháp mà đạt thành tựu. Che dấu sự tài hoa về phương diện chính trị của ông ấy; cái thứ ha chính là Tào Tháo và Tư Mã Sư giỏi mua chuộc lòng người, từng sai người vơ vét hết về mình. Có công lao cũng giao cho thuộc hạ.
Người làm chính trị phải cần cù, kiên quyết, mạnh dạn, không tránh khỏi có chút bá đạo. Ở vị trí trợ thủ, cũng không được tính là sai lầm gì. lớn, thế nhưng nếu ở vị trí người đứng đầu, có thể biết khéo léo dùng người, hòa giải mâu thuẫn, làm cho thuộc hạ có thể cố gắng hết trách nhiệm đó mới là điều trọng yếu nhất. Đạo lý đó rất đơn giản, nhưng người hiểu rõ và làm được thì có mấy người?
————
Quyền lực bất cứ ai cũng thích, chẳng qua sau này cô nếu trở thành một người quyết định, nhất định phải chú ý không nên dây dưa vào mấy việc nhỏ nhặt. Người lãnh đạo quan trọng là xem cách dùng người, dùng đúng người, dùng tốt cấp dưới. Cô không cần phải là chuyên gia đặc biệt trong một lĩnh vực nào đó, nhưng phải có năng lực nắm bắt bản chất và yếu hại trong miệng của các chuyên gia.
————
khó khăn là phải khắc phục, không có khó khăn thì sáng tạo khó khăn, cũng phải khắc phục.
————
trong lĩnh vực chính trị, không có đối thủ vĩnh viễn, chỉ có lợi ích vĩnh viễn.
————
Ở trước mặt một quốc gia có sức mạnh quân sự khổng lồ thì bất luận là loại người xã hội đen nào cũng đều không có khả năng chống cự.
————
– dùng người đầu tiên là phải có tài, một người trung thành mà tài trí bình thường dùng có lẽ yên tâm. Nhưng tụ tập một đám người có đầu óc bình thường thì không làm được việc gì.

– Trong chốn quan trường người có chút thành tựu thì ai lại có đầu óc bình thường cơ chứ? Sở trường của mỗi người đều không giống nhau. Quan trọng là xem e dùng người như thế nào, đặt ở một vị trí thích hợp sẽ làm được việc, đặt ở vị trí không thích hợp sẽ là chuyện xấu.
————-
đối sự bất đối nhân

Như một đứa trẻ bị đánh nhiều trở nên mất tự tin, hai cụm từ “văn hóa phương Đông” và “văn hóa phương Tây” bị lạm dụng nhiều trở nên mất 90% ý nghĩa.

Mở đầu là một số bức minh họa của anh Yang Liu, một họa sĩ người Trung Quốc đang du học tại Đức. Bên trái là văn hóa Đức, bên phải là văn hóa Trung Quốc.


“Trình bày ý kiến”



“Ông sếp”



Lối sống”



“Bực mình”



“Trẻ em”



“Xếp hàng”



“Cuộc sống người già”


“Tiệc tùng”



“Quan hệ xã hội”


“Nói chuyện tại nhà hàng”



“Tính đúng giờ”



“Cái tôi”


“Du lịch”

Có phải những bức minh họa trên so sánh văn hóa phương Đông với văn hóa phương Tây? (Mặc dù họa sĩ nói so sánh văn hóa Đức với văn hóa Trung Quốc.) Có phải những bức bên trái có nhiều điểm chung thuộc văn hóa Phương Tây, bên phải nhiều điểm chung thuộc văn hóa phương Đông?

Tôi nghĩ không.

Thế giới phương Tây đa dạng; nhiều nền văn hóa khác nhau đến mức rất khó tìm ra điểm chung. Thế giới phương Đông càng đa dạng, tìm ra điểm chung là nhiệm vụ bất khả thi.

Ai từng đi Thụy Sĩ và Ý biết hai văn hóa thuộc hai nước này khác nhau như pizza và socola. Ai từng đi Việt Nam và Nhật (trong đó có tôi) biết hai văn hóa thuộc hai nước đó khác nhau như phở và sushi! Một người giỏi tranh luận có thể bảo vệ quan điểm rằng “Văn hóa Thụy Sĩ gần với văn hóa Nhật Bản hơn với văn hóa Ý,” hoặc “Văn hóa Việt Nam gần với văn hóa Ý hơn với văn hóa Nhật Bản.” Người Nhật xếp hàng giống cách người Thụy Sĩ. Người Ý “quý sếp” giống cách người Việt, v.v.

Tôi thường nói “Người Tây có quan điểm A, sở thích B…” Chắc do nhiều trang báo nhờ tôi viết bài về “Quan điểm của người Tây về phụ nữ Việt Nam”, hoặc “Cách nhìn của người Tây về Tết Nguyên Đán” nên cái tôi của tôi mở rộng, bị nhầm lẫn quan điểm của Joe và quan điểm tất cả các người Tây đang đi lại trên trái đất. Ảo tưởng tự đại…sứ.

Nói chung văn hóa phương Tây là…Nói chung văn hóa phương Đông là….

Viết vậy không khác gì tôi viết: “Nói chung khí hậu ở bán cầu bắc là rất dễ chịu.”

Tùy nước, tùy vùng.

Tùy trường hợp nữa. Nhìn lại bức tranh “Bực mình” trên. Đúng là có nhiều trường hợp người Canada khi thấy bực mình sẽ nói bực mình, người Việt Nam khi thấy bực mình sẽ nói “vui qúa!”. Nhưng cũng có trường hợp ngược lại. Ví dụ, một người khách làm mất thời gian của bà chủ cửa hàng, chọn, lựa, mặc thử liên tục, cuối cùng đi ra không mua gì hết. Trong trường hợp đó bà chủ ở hai nước sẽ thấy bực mình, nhưng tỷ lệ khách Việt Nam bị “chửi-đuổi” sẽ cao hơn.

Con kiến và con ong

Thay vì nói “văn hóa phương Đông” và “văn hóa phương Tây”, hai cụm từ rất tối nghĩa, tôi muốn đưa ra một cách so sánh khác: Văn hóa con kiếnVăn hóa con ong. Đó là hai cách tổ chức xã hội thuộc về lý thuyết, không liên quan vĩ độ, màu da, hay bất cứ yếu tố địa phương nào khác.

Tôi chọn con ong và con kiến vì cả hai đều là loại côn trùng xã hội (“Vì ta cần nhau”) nhưng lại có lối sống khác nhau. Con ong bay thẳng từ bông hoa này sang bông hoa khác, làm việc độc lập, có thể ở một mình trong thời gian dài nhưng khi cần thì rất biết làm việc nhóm. Con kiến bò từ điểm A sang điểm B là theo con đường ngoằn ngoèo, phức tạp. Nhưng trên con đường ngoằn ngoèo ấy các chú kiến luôn bò cùng nhau, giúp đỡ nhau, chăm sóc lẫn nhau…tóm lại, con kiến rất “nhau”.

Một con ong có thể tự thụ phấn cho hoa; một nhóm con kiến khi thấy chiếc lá hấp dẫn muốn chuyển sẽ cắt nhỏ, chia mỗi chú một miếng.

Thêm vào đó, các tổ ong chia thành “phòng” hình lục giác, mỗi “gia đình” có không gian riêng của mình, kiến trúc vừa đơn giản vừa hiệu quả. Các tổ kiến có nhiều gia đình một phòng, kiến trúc không đơn giản chút nào nhưng đường phố ngõ ngách các chú kiến biết hết.

Trái: bên trong “nhà ong”. Phải: mẫu bên trong tổ kiến.

Một số đặc điểm của văn hóa con kiến

– tính cộng đồng cao

-“Sống chung với lũ”

– nhiều mối quan hệ do “cuộc sống tặng”

– tập trung vào quá trình làm việc

– yêu sự hài hòa và cân đối

– nhà nhiều thế hệ cùng sống

– chấp nhận “vùng xám” lớn

– uốn lưỡi bảy lần trước khi nói

Một số đặc điểm của văn hóa con ong

– đi thẳng vào vấn đề

– đề cao cái tôi

– nghĩ sao nói vậy

– thích đen trắng (chấp nhận vùng xám nhưng phải nhỏ)

– tôn trọng không gian riêng của người khác

– “sống để chống lũ”

-người trẻ và người già khá độc lập

– nhà thường 2 thế hệ cùng sống

– tập trung vào kết quả

– mối quan hệ chủ yếu là “tự tặng mình”

Văn hóa nào cũng có chút “chất kiến”, chút “chất ong”. Nếu “văn hóa con ong nguyên chất” xếp hẳn vào bên trái thước đo của tôi (số 1) và “văn hóa con kiến nguyên chất” xếp hẳn bên phải (số 10) thì tôi nghĩ văn hóa Mỹ sẽ là số 2 và văn hóa Việt Nam sẽ là số 8.

Tôi thấy văn hóa Ý, đặc biệt vùng miền Nam và đảo Sicilia, có nhiều khía cạnh rất “kiến”. Ngược lại, tôi thấy văn hóa Nhật Bản có nhiều khía cạnh rất “ong”, có thể nói “Tây hơn cả Tây”. (Những khía cạnh đó tôi sẽ để cho các bạn tự nghiên cứu.) Tôi xếp đảo Sicilia vào số 6 và đảo Nhật Bản vào số 4.5.

Nga nghiêng về bên con kiến. Singapore nghiêng về bên con ong. Úc thì rất ong. Thái thì rất kiến.

Hàn Quốc trước đây là số 9 nhưng bây giờ là số 7. Canada tôi cho là số 4. Canada vốn là đất nước có hai văn hóa Pháp và Anh, nên người Canada rất hiểu cụm từ “sống chung”, sống hạnh phúc với những gì mình đang có. Các văn hóa thuộc Châu Phi, Trung Quốc, Ấn Độ chủ yếu là văn hóa con kiến; do vậy, trên thế giới “dân kiến” đông hơn “dân ong”. Văn hóa Nam Mỹ kiến hơn văn hóa Bắc Mỹ. Các gia đình Nam Mỹ “Việt Nam” hơn, sống tình cảm, chấp nhận một “vùng xám” lớn.

Thôi, đủ rồi. Đánh giá từng nền văn hóa không phải mục đích của tôi. Mục đích của tôi là đưa ra một cách so sánh mới, tôn trọng sự đa dạng của thế giới phức tạp này. Và một mục đích nữa – phân tích xu hướng.

Từ kiến sang ong

Tôi thấy xu hướng chính là từ văn hóa con kiến “dịch chuyển” sang văn hóa con ong. Chúng ta nên nhớ rằng, nhiều văn hóa Châu Âu ngày xưa đã rất con kiến; cách đây mấy trăm năm các gia đình ăn chung, dùng chung một con dao mà chưa có nĩa (wikipedia, “Medieval cuisine”). Thời đó các đại gia đình gần gũi với nhau hơn.

Ngày xưa người Tây ăn chung một cách rất Ta


Yếu tố chính làm thay đổi nhiều nền văn hóa ở Châu Âu là do công nghệ. Nhờ sự phát triển của công nghệ và công nghiệp, những mối quan hệ trước đây coi là “bắt buộc” (dựa vào nhau mà sống), đã thành “tùy ý” (dựa vào nhau nếu thích). Có thể sống độc lập…vì công nghệ. Có thể có nhà riêng…vì công nghệ. Có thể kiếm tiền một mình…vì công nghệ.

Công nghệ cho phép giới trẻ chọn một cuộc sống “ong” hơn. Và nhiều giới trẻ chọn đúng như thế.

Thời cách mạng công nghiệp “văn hóa con ong” đã thu hút nhiều giới trẻ phương Tây, còn thời bây giờ “văn hoa con ong” đó đang thu hút nhiều giới trẻ Việt Nam. Ví dụ, hỏi 100 học sinh Việt Nam “Nếu có cơ hội em sẽ chọn đi du học ở đâu?” tôi nghĩ hơn 80 học sinh ấy sẽ chọn đất nước có nền văn hóa con ong. Phim “con ong” rất thành công ở thị trường “con kiến” này. Con ong bay, nhiều giới trẻ Việt Nam chạy theo.

Đó là xu hướng chính. Nhưng tôi thấy có một xu hướng phụ cũng rất thú vị. Đó là giới trẻ ở nhiều nơi có nền văn hóa con ong đang bắt đầu tìm ý nghĩa cuộc sống ở văn hóa con kiến! Vật chất thì ổn nhưng tinh thần thì chưa. Thay vì đi siêu thị họ chọn đi chợ, mặc cả một chút, nói vui với các anh chị bán hàng. Thay vì ô-tô họ đi xe đạp. Thay vì cố gắng giải quyết mọi vấn đề trong đời, họ học theo đạo Phật, đạo Lão, đạo Ấn, hoặc quyển sách bestseller dạy đời – cứ từ từ mà sống.

Con ong bay về phía biển, giới trẻ Việt Nam chạy theo. Con kiến bò về phía núi, giới trẻ Canada chạy theo. Triết học đôi khi rất hài hước.

Joe

Khi đi làm một thời gian, điều mệt mỏi nhất là một ngày đẹp trời, bạn thấy… mệt mỏi thực sự với công việc đang làm. Bạn chán phải dậy đúng giờ, đóng bộ công sở ngay ngắn và mặt mày căng thẳng để đối phó xem kế hoạch hôm nay, tuần này, sẽ phải giải quyết sự vụ gì. Bạn đã ngán ngẩm cảnh chạy tới chạy lui tìm chỗ để xe hay chen chúc ở cửa thang máy chờ đến lượt trong khi giờ làm đã điểm.

Bạn đã phát ốm khi ngồi thừ mặt ra trước suất cơm buổi trưa và nghĩ xem kiếm đâu ra hai cái ghế nữa để ghép thành chỗ ngả lưng trong một tiếng sau đó.

Bạn đã muốn điên đầu vì cả tầng nhà có một khu vệ sinh bé tí mà lúc nào cũng đã có người trong đó mất rồi. Tuy nhiên, đó là chuyện nhỏ. Ai cũng thế cả, gì mà đã phải kêu?

Nhưng bạn đã cãi nhau lần thứ 36 với phòng hành chính vì trừ lương vào những ngày bạn đi muộn hay nghỉ đột xuất; trong khi đó, theo bạn, tiến độ vẫn đảm bảo.

Bạn đã gửi dăm cái mail kêu ca khiếu nại lên sếp về chuyện chuyên môn. Bạn đã rất cáu khi đề án của mình không được ủng hộ để triển khai. Bạn thấy mọi sự dường như không còn trơn tru như hồi trước. Đến đây chuyện không còn nhỏ nữa.

Như thế, có thể khẳng định chắc chắn là bạn đã muốn thôi việc lắm rồi. Nhưng bạn chẳng phải là người đầu tiên nhìn ra cái kết quả ấy.

Người trực tiếp quản lý bạn, đồng nghiệp xung quanh bạn chỉ cần thấy bạn bị nhắc nhở đến vài lần, hoặc thấy bạn gần đây bất mãn nhiều hơn, là cái khả năng chia tay đã gần thành hiện thực: “Dạo này tao thấy mày có vẻ không tập trung lắm?”

Vậy là trước khi có một thông báo đầy lịch sự với những dòng như “Công ty rất cảm ơn những đóng góp của anh/chị thời gian qua… Mong rằng chúng ta sẽ có cơ hội tiếp tục cộng tác trong tương lai”, thì bạn đã phải tiến hành chuẩn bị trước, để giành phần thắng vào phút chót.

Nhưng mà khổ nỗi, phút chia ly này còn thắng được cái gì trừ cái lòng tự ái được thoả mãn? Thực ra hiếm khi căng thẳng như phim Mỹ khi bỏ việc, bạn thét vào mặt sếp về một chuyện vớ vẩn nào đó, ông ta lạnh lùng thở hắt ra hoặc đỏ mặt gầm lên: “you’re fired!”

Tôi đã chứng kiến hầu như mọi cuộc chia ly nơi văn phòng đều rất êm ái. Sẽ là một cuộc nói chuyện khá ấm cúng giữa sếp với người ra đi, mà đến lúc này mới hay “hoá ra em ở gần nhà anh” chẳng hạn.

Sếp sẽ gửi một bức thư điện tử cho khắp cơ quan với những lời chúc như chưa hề có cuộc chia ly. Mọi người trong văn phòng ngỡ ngàng khi thấy anh bạn đồng nghiệp im tiếng hàng ngày hôm nay vui vẻ đi khắp các bàn bắt tay lần đầu tiên và cũng có thể là lần cuối cùng trong đời với mình.

Sẽ là nỗi ghen tỵ kinh khủng của những kẻ ở lại nếu biết người ra đi kiếm được chỗ làm tốt hơn, nhiều cái hấp dẫn đáng ngờ (nghe đâu lương của nó 1000 đô cơ đấy). Mà chỗ mới nào chẳng tốt hơn cơ chứ!

Người ra đi cũng chỉ muốn ngoái lại để khoe một khởi đầu mới, nhưng phải là một khởi đầu khiến người đó có thể kiêu hãnh mà khẳng định mình đã đúng.

Nếu không thành công thì chẳng hoá ra thừa nhận sự thật là mình đã không đủ năng lực mà còn dám chê chỗ cũ à? Hoặc ta sẽ có chút thoả mãn khi gặp lại đồng nghiệp cũ cũng đang bất mãn với cơ quan: “Đấy, thấy chưa. Tớ đi sớm là sáng suốt”.

Những hờn giận, nghe ngóng, hay tò mò chẳng khác nào một người đã chia tay bồ cũ nhưng vẫn ghen bóng ghen gió với cố nhân.

Thì đấy, mỗi ngày sống với nhau ít nhất 8 tiếng, mấy năm trời, nay dứt áo ra đi, đâu dễ quên ngay cái thói ăn quà vặt rả rích như mưa dầm với nhau hay mùi nước hoa nhức mũi cơ quan dùng để át mùi tài liệu mốc.

Thế nhưng sau khi bạn tay cắp mấy cái cặp tài liệu cá nhân, đĩnh đạc bước ra ngoài trời, hít lấy không khí thiên nhiên tươi mát, mặt kiêu hãnh đi trong gió lạnh, thì cũng là lúc thông tin về bạn bắt đầu biến mất dần trong cái hộp sặc sụa mùi máy lạnh kia.

Ai mà nhớ bạn mãi được trừ khi bạn là người sáng lập hoặc tên bạn là tên công ty. Và nếu coi công ty là một người tình, thì bạn – kẻ ra đi và biết bao người khác cũng sẽ đi, chỉ là người yêu qua đường, là một trong số từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ…

Năm 2000 hàng loạt công ty dotcom phá sản trong khi tuổi đời rất trẻ. Những kẻ làm việc ở đó có cơ hội chia tay công ty trên tư thế “đau một lần rồi thôi”, dù sao chúa chết trạng mới băng hà, cũng là thoả lòng đôi ta cùng đứt gánh.

Chứ tức nhất là, mình ra đi lang thang cơ nhỡ, công việc mới chưa ra đâu vào đâu mà cái đám đồng nghiệp cũ cứ ăn nên làm ra như thể mình đi mang theo vận xui của họ vậy!

Coi như bạn xóa ván cờ, làm lại từ đầu. Giàu hai con mắt, khó hai bàn tay. Vậy hãy cùng mở to mắt và giơ tay ra cùng đánh giá lại vấn đề dẫn đến hiện thực hôm nay.

Trước hết, sau khi đã hết cái men ngây ngất của ánh sáng tự do đưa tới, bạn phải đối diện với vấn đề: bạn bỏ việc cũ chỉ vì bạn thấy chán và muốn thay đổi. Chứ thật ra bạn không hẳn đã muốn tự do!

Tôi biết bạn rõ lắm mà, như mọi anh viên chức khác, làm sao mà sử dụng cho hết hai tiếng tự do, nó thực ra quá xa xỉ và nếu dùng chỉ như là thứ gia vị nêm nếm cho thêm phần cảm giác mà thôi.

Nó là con cá gỗ treo trên đầu bạn để chép miệng vài lần cho thèm vị mặn chứ không có xơi được! Vừa cởi ra được sợi dây trói này, bạn đã thèm một cái thắt lưng an toàn khác cột chặt vào một cái ghế ở đâu đó.

Cho nên hãy bình tâm mà chấp nhận một chỗ làm mới chỉ khác chỗ cũ về địa điểm. Như tôi, cơ quan mới nằm bên kia đường đối diện cơ quan cũ! Hai nơi đều dùng bàn Xuân Hoà, màn hình LG và điều hoà hiệu Panasonic lạnh phát sốt.

Hãy cắn răng mà chờ cho qua cơn trầm uất vì chưa hội nhập được với đám đồng nghiệp thích bắt nạt ma mới. Hãy đợi đến khi thấy có thể ngủ trưa mà ngáy được trên ghế cơ quan. Khi đó bạn đã là người đằng mình rồi!

Tất nhiên, bạn chuyển chỗ làm việc còn vì tiền. Hoặc nếu lương không cao thì bạn cũng có những miếng mồi như: chức vụ tương lai, thu nhập bổng lộc đâu đó, hệ thống cơ quan nhà nước nhiều đặc quyền,… rất mờ mịt hoặc rõ ràng cụ thể như ở chỗ mới có một cô cực xinh, cực hot!

Hoặc có người chạy trốn khỏi cơ quan chỉ vì một lí do cực lãng mạn: chạy trốn một tình yêu. Cô thư kí chạy trốn một quan hệ với sếp chẳng đi đến đâu. Thường thì hồng nhan bỏ việc gây xôn xao hơn một anh trai già.

Như một minh tinh cỡ Greta Garbo rời bỏ màn bạc lúc trên đỉnh cao, người đẹp văn phòng ra đi là không chỉ sếp buồn, cánh mày râu thấy trời phụ lòng người, mà cả các chị em cũng thấy từ nay mình không còn được ghen tị. Mấy bà béo chúng mình với nhau, có gì để người ta ghen cơ chứ?

Còn bạn, không tình yêu, không nhan sắc, bạn cần thực tế hơn. Bạn đi vào thời điểm nào? Đừng đi trước kỳ xét tăng lương hay là phát thưởng. Đừng đi nếu bạn sắp chuẩn bị dành tiền du lịch dài ngày. Đừng đi nếu bạn chưa có đủ những thứ cần thiết để điền vào CV (lý lịch xin việc).

Nhưng mà chờ đến khi nào thì mới đủ tiền hay CV đủ đẹp cơ chứ? Mà bao nhiêu thì là đủ? Nếu chờ đủ hẵng đi, thì câu trả lời là không bao giờ. Tính toán làm chi mấy thứ lợi ích cỏn con ấy. Bạn lo đến một thứ khác, đòi hỏi nỗ lực và hi vọng lớn hơn. Bạn đi xin việc mới.

Ba mươi tuổi đi xin việc khác với hăm ba tuổi, vừa có gì giống người hai lần đò tìm bến mới, vừa như một kẻ lang thang cơ nhỡ cần nơi nương tựa. Thời buổi người khôn của khó, không dễ để có người quen giới thiệu hoặc được dùng cái từ rất an toàn còn sót lại của thời bao cấp là “chuyển ngành” thì ta phải chấp nhận hình thức thi đấu thông thường: tuyển người.

Người đi tìm việc mới phải cày nát các trang thông tin tuyển dụng, nghe ngóng các kênh thông tin với rađa mở hết cỡ. Dù đã có bề dày thành tích với bằng cấp đầy mình, bạn vẫn hồi hộp chuẩn bị.

Thật không thể nói cho hết cảnh ganh đua không kém thi đại học, bởi mỗi ứng viên ở đây đã là những người dày dạn kinh nghiệm, hoặc cũng cố gắng tự tin để lấy điểm với nhà tuyển trạch. Cảm giác của người đi xin việc là sao mà khó lường được bụng dạ người phỏng vấn.

Ngày đi thi đã đến… Nếu không giới thiệu, dễ tưởng là một buổi trình diễn thời trang công sở. Tôi từng đi thi tuyển họa sĩ đồ họa, thấy trong đám ứng viên có người mặc cả một bộ complê hoặc váy mini-jupe rất trịnh trọng.

Nhưng ngồi vẽ làm sao mà thắt cà vạt cài kín cổ hay khép chân dài đi guốc cao gót mãi cho được! Mỗi người cố gắng phô ra một ngoại hình dễ coi nhất, một phong thái tốt nhất theo ý họ.

Tôi đâm hoảng, hình như thời nay tuyển họa sĩ cũng cần hình thức thì phải. Nhưng mà hình thức cũng phải dính dáng đến sáng tạo như thế nào chứ?

Tôi coi thường cái anh chàng complê màu lông chuột đeo cà vạt chấm sọc kia, chả toát lên tinh thần nghệ sĩ gì cả (phen này mày rớt đầu nước với cái bộ dạng thời trang viên chức như thế). Còn cái tay tóc dài thả gió lê thê kia, mặc quần túi hộp, áo phông Hard Rock, mới là đối thủ đáng gờm. Trông nghệ sĩ lắm.

Công cuộc tô lại đời mình không có đơn giản được như việc sơn lại căn nhà. Bạn thi thố tốt, trả lời trôi chảy, cái khó lại nằm ở chỗ bôi trát lấp liếm những khoản nhem nhuốc chưa hoàn thiện của mình.

Nhưng cũng không khó bằng cái câu mà bạn ghét nhất: “Tại sao em lại bỏ công ty cũ? Vì sao em lại thi vào đây?” Cứ như thể nhà tuyển dụng chưa từng biết thế nào là tiền polymer vậy!

Khi ba mươi tuổi, khi có mười năm thâm niên, đời bạn chẳng còn là trang giấy trắng nhưng là lúc bạn cấu trúc lại những trang kinh nghiệm cũ. Biết đâu với con mắt xanh của nhà tuyển dụng, họ sẽ đưa bạn cất cánh. Bạn mơ màng nghĩ đến viễn cảnh ấy và hoàn thành bài thi tuyển tốt nhất của đời bạn.

Tôi cũng hăm hở thể hiện tài năng như thí sinh thi người đẹp khoe cơ bắp. Rồi tôi cũng hào hứng chờ đợi kết quả tuyển dụng y như thế. Tôi tự tin lắm, nghĩ mình phải đầu bảng.

Thế nhưng đời không biết chữ ngờ, cái màu hồng vẫn chưa tô lên trang đời mới sau đó của tôi. Chỉ vì tuổi tôi nằm trong tứ hành xung Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Sếp ở đó tuổi Hợi, cầm tinh cái con vật hiền lành chỉ biết ăn no ngủ kĩ, vậy mà lại gây rắc rối cho tôi.

Và nghe đâu, người trúng tuyển là một cô hăm lăm tuổi mặc mini-jupe. Dù sao như thế tôi thấy cũng đỡ khó chịu hơn là cái gã complê màu lông chuột kia, chất nghệ kém hẳn so với váy ngắn mà có óc sáng tạo hơn.

Cuộc sống dân văn phòng chúng ta, làm gì cũng hiện lên hai chữ “công việc”. Rời việc ra, chúng ta như người vô giá trị. Đâm ra nói “yêu công việc” chưa chắc đã phản ánh trung thực lòng ta, mà thực tế là ta buộc phải chọn con đường gắn chặt với nó.

Chúng ta được nhận diện ở chốn văn phòng là nhờ màu sắc công việc ta làm. Giá trị của ta nằm cả ở đấy, nên ta cố gắng tô tô trát trát đời mình là điều cũng phải. Giai nhân với danh tướng từ xưa, bất hứa nhân gian kiến bạch đầu, thì dân văn phòng có bao giờ để thiên hạ thấy mình mất tư cách văn phòng!

Trương Quý

Không hiểu tại sao mà từ xa xưa, hai chữ “duyên” và “phận” thường hay được nhắc đến trong cuộc đời của người phụ nữ, có lẽ bởi thói quen chăng?

Nam giới (đương nhiên) cũng có “số phận” và mang đủ “nhân duyên”, nhưng hình như nữ giới mới thường xuyên suy ngẫm về duyên và phận, nhiều hơn.

Từ chữ “phận” cũng có thể suy thêm ra “số phận”, hay “thân phận”, hoặc kết hợp thành “duyên phận”, và cuối cùng là “an phận”…

Mặc ai lên võng xuống dù
Ta vui duyên phận cần cù… nuôi nhau

Nhưng thực tế cuộc sống lại không đơn giản được như vậy, khi số phận bao trùm lên cả cuộc đời và nhân duyên. Có người sinh ra tuy không giàu nhan sắc nhưng tài và quyến rũ, trong khi nhiều cô gái thật xinh vẫn thiếu mất nét duyên…

Các cụ bảo nếu trời cho cái này (sẽ làm) thiệt đi cái khác và ngược lại. Cuộc sống là một vòng tròn đầy và khép kín, bởi nếu niềm vui đến nhiều cả hôm nay, thì có khi nỗi buồn sẽ tràn qua vào dịp khác. Nếu một ngày nào đó bạn gặp điều không may, thì cuộc sống sẽ mỉm cười với bạn vào ngày hôm khác.

Mùa mưa có thể kéo dài hàng cả tháng, nhưng rồi mặt trời cũng sẽ rạng ra, cho đến khi lại một kỳ mưa nối tiếp trước những ngày nắng ráo đến theo sau đó. Và tất cả là những chu kỳ – vòng tròn mà có khi chợt nhớ lại mới nhận ra rằng, trong cuộc sống (ai chẳng) đầy những niềm vui, và (đôi khi) lại một nỗi buồn đi kèm sau đó…

Một cô bạn tôi sinh năm Dần, tính nết sắc sảo lại học cao, có tài còn thêm ham du lịch, y như rằng cái duyên nó kéo nặng ngay đằng sau. Cô bạn đã và từng yêu đến lần thứ… nhiều nhưng toàn là đổ vỡ. Có người nói rằng cứ nghe con gái tuổi Hổ là đã thấy… mạnh rồi.

Mà là mạnh thật, bởi tính nết tự chủ và độc lập từ nhỏ, lớn lên đi làm càng khỏe hơn, hễ dành đủ tiền là chờ kỳ nghỉ lễ để vác balô đi vắng. Vậy nên, tuy làm thì chăm đi chơi thì đã, nhưng hậu quả nhờ thế lộ rõ ngay là hơi khó chọn được chồng… vừa ý, dù tuổi đã vượt qua hẳn “cột mốc số ba”!

“Âu cũng là số phận” – có lần tôi định chia sẻ vài lời hỏi thăm, “Ồ không, tại cái tính tớ đấy – cô bạn giải thích – vì còn mải chơi thì chẳng lấy chồng sớm được đâu”.
Vậy có lẽ, khi mà trời ban cho tính ham chơi, thì sẽ phạt ngay vụ cưới chồng muộn! Mà rồi cũng vừa là số phận, lại vừa là nhân duyên.

Nhưng cưới muộn cũng có (vài) điểm hay, bởi khi tuổi đã chững hơn thì suy nghĩ cũng chín chắn hơn, cân nhắc tốt hơn, khẳng định đủ hơn, và (hy vọng rằng) sự hôn nhân theo đó sẽ bền vững hơn.

Mỗi người sinh ra đều mang theo mình số phận, rồi sống đến đâu sẽ rõ dần phận mình đến đó, chứ có người vì mải lo trước và tò mò về tương lai mà chạy đi xem bói toán, lại chưa hẳn đã là cách hay.

Một người bạn khác của tôi, nhân giờ nghỉ trưa theo mấy chị trong cơ quan ghé sang ngõ cạnh đó thăm bà lão mới từ quê lên, nghe nói giỏi bắt mạch và xem tướng lắm. Bà cụ đoán nhiều thứ trong đó có nói các cô ở tháng này cẩn thận có chuyện hao tài (mất tiền) và miệng tiếng (cãi cọ), nên về lo căn hướng mà kê lại chỗ ngồi cho kỹ.

Có vậy thôi mà cả tuần sau đó các cô vì mải tính chuyện chuyển lại bàn ghế, tìm góc và kê chỗ ngồi, rồi lục đục sinh ra bất hòa, đến nỗi sếp phải vào can thiệp để khỏi ảnh hưởng đến công việc chung, nhưng không may là cuối tháng khi kế toán thông báo giảm tiền thưởng cá nhân vì thiếu năng suất, thì mới rõ là bị giảm mất tiền thật. Vậy là số các cô tháng ấy vừa thật hao tài vừa mang đủ miệng tiếng.

Số phận chính là cuộc sống của mình, mỗi người sinh ra đều được sống và có một đời sống trải dài theo những quãng thời gian, mang theo nhiều vui, buồn, thương, cảm…; số phận đôi khi cũng là các dạng cảm giác, như lúc cảm thấy khoảng đời mình có những khúc quanh, thì nghĩ rằng phận mình nhiều trắc trở.

Nhưng nếu lạc quan hơn thì có thể cho rằng những đoạn rẽ ấy là lúc thay đổi một (hoặc vài) góc trong cuộc đời mình, giống như một vòng tròn âm dương – trong dương có âm và ngược lại trong âm có dương – xen giữa niềm vui có thể lẫn nỗi buồn và nhiều khi giữa sự buồn lại tìm thấy (những) nguồn vui.

Từ khi sinh ra thì số phận đã là của mình, cho tới dần lớn lên thì số phận phần nhiều có nguyên nhân và phụ thuộc vào mình. Những người lạc quan thường tin vào bản thân và cho rằng mỗi người có thể (và phần nào) làm chủ được số phận của mình, hoặc giả như kém lạc quan hơn, thì vẫn nên nghĩ rằng, ông Trời thường ít khi cho ai đó tất cả, những cũng không lấy mất của ai tất cả – nếu được nhiều về mặt này, thì đôi khi có thiệt thòi ở mặt khác, và ngược lại, nếu cuộc sống thiếu hụt ở góc này, thì sẽ được bù đầy những góc khác… và khi ấy người ta nói rằng, đó là số phận!

Số phận còn là những gì ta đã trải qua, khi ta đang và sẽ sống. Không gì bằng một cuộc sống khỏe mạnh và lạc quan, đủ để cảm nhận những thời khắc quí giá, với thời gian, và những trải nghiệm của cá nhân mình.

Những người lạc quan thường có cuộc sống vui và tích cực, bởi thời trẻ trôi qua mau lắm. Tuổi càng đầy thêm lại càng nghĩ nhiều về quá khứ và khắt khe hơn, nhưng nếu bạn rộng lòng cho niềm vui và cởi mở, thì sẽ cảm nhận về chính mình và về “số phận” tích cực hơn, thông thoáng hơn và tự tin hơn.

Đôi khi nghĩ về “số phận” dường như là một cảm tính, một cuộc sống giản dị, vui vẻ và lạc quan, sẽ tạo ra một “phận” đầy và hạnh phúc…

Vũ Nhật Tân

Trong khi đào muối dưới hầm sâu, Sava thường nghĩ rằng, trong cuộc sống của con người, sự trìu mến là như muối trong nhà bếp. Nếu thiếu muối trong các món ăn thì các món ăn ấy không còn ngon miệng. Nếu thiếu sự trìu mến trong cuộc đời, thì tất cả những gì con người thực hiện đều nhạt nhẽo, vô vị. Cũng như một món ăn không có muối. Một cái vuốt ve, một cái ôm ghì, một viên kẹo, đó là những cái cho cuộc đời một hương vị…”.
(Trích từ tiểu thuyết “Tình trên non cao”, tác giả C.V.Gheorghiu)

Sống nhạt
Trừ những người bản năng nhạt, bản chất nhạt, còn với những người nhận thức được tình trạng nhạt của mình rất khổ. Họ bí bách, bức bối, và cáu giận khi thấy mình trong tình cảnh lờ đờ đó. Thật là sợ hãi, nếu ta sở hữu một tâm hồn mệt mỏi, hoặc ngược lại, sở hữu một tâm hồn sắt đá, chai sạn.

Nhạt, cũng chỉ là một gia vị trong tính cách. Cái thứ nhạt ấy, khác với thứ vô duyên nhạt nhẽo, nó là sự dửng dưng, lãnh đạm, thờ ơ đến bàng quan. Nó là một thứ đáng báo động của sự thiếu sâu sắc. Các cuốn sách nhạt, bài hát nhạt, phim nhạt, lối sống nhạt… phải chăng chính là do xu thế, mà xu thế, là do con người tạo ra. Chính con người mờ nhạt vậy, nên cuộc sống cũng mờ nhạt theo.

Người ta sống mờ nhạt hơn, làm mọi việc, cũng qua quýt hơn. Biết nhiều thứ, nhưng thứ nào cũng nông hơn. Quen nhiều người, nhưng không có bạn tri kỷ. Đối xử với nhau nhạt nhẽo và lạnh lùng hơn. Ta có thể sở hữu nhiều thứ, ta khát khao nhiều thứ, nhưng là vô tội vạ, không xác định được ta thực sự cần gì.

Việc Nhạt
Cái nhạt, ngoài cảm giác của vị ra, còn là cảm giác của nhịp điệu. Những nhịp điệu đều đều, không thay đổi. Những ý nghĩ đi trên một lối mòn đơn điệu cũng dễ làm con người thấy nhàm chán. Lương cao, mà không phải làm gì, hoặc không làm được việc, sẽ làm con người bất ổn. Lương thấp, do không đánh giá được đúng người tài, lãng quên họ, hoặc coi thường.

(Một người tài bây giờ, làm việc bằng năm bằng mười người khác). Hoặc thời của “bão giá”, mà mãi lương chả tăng là bao gây nên cảm giác nhạt nhẽo đến bạc bẽo của tiền lương. Chán việc lắm rồi, chán sếp lắm, chán nhân sự lắm, đấy là câu cửa miệng của dân văn phòng! Ai biết đâu, khéo sếp họ, nhân sự của họ, cũng đang phát… chán y như họ ấy chứ!

Chán, thì ai chả chán. Chỉ có làm cái gì xuất phát từ tình yêu, từ tâm, mới có thể làm bớt nhạt hóa trong lao động. Người thời trước, cả năm cả đời, gắn chặt với một nơi làm việc. Cái thời rời bỏ nhà nước để về hưu một cục, hoặc chuyển sang buôn bán làm ăn kinh doanh, là thời phải tự đấu tranh với chính họ lắm, dằn vặt lắm mới dám.

Đến khi về hưu, đối mặt với cả một đống nhạt đống chán trước mặt, bảo sao không “sì trét” nếu không sắp đặt lại được cuộc sống sao cho phù hợp. Chuyện đã vãn hồi, đã nhạt, thì tốt nhất là giải tán. Vậy cái nhạt, khi không còn thêm nếm, không còn được giải cứu, chính nó là những chất xúc tác phá tan sự gắn kết của sự vật. Kiểu chẳng còn gì để nói, tốt nhất là đường ai nấy đi.

Người trẻ thời nay tài giỏi, nhảy tanh tách từ công ty này sang công ty nọ, từ nội địa đến toàn cầu. Chán chỗ này, ta nhảy chỗ khác. Nhưng nhảy đâu thì nhảy, để tránh được cái nhạt, chính là tư duy của mỗi người. Nếu tư duy ì trệ, không thay đổi, không tự đi tìm cho mình những niềm vui, sự say mê trong công việc, thì nhạt, vẫn là nhạt thôi.

Nhạt yêu
Cô bạn tôi, ngày nào cũng “buzz” tôi trên YM để chát chít đôi ba câu. Và câu chuyện nào rồi cuối cùng cũng xoay quanh cái việc, hôm qua chồng cô đã – như – thế – nào với cô. Cô bảo, đã lâu rồi, chồng cô đi làm cả ngày về, tối loay hoay ôm máy tính. Đêm khuya, chàng nằm trên ghế salon, nàng gọi vào phòng ngủ, cũng không vào.

Một năm, số lần gần gũi nhau không đáng là bao. Nàng cô đơn, buồn tủi thèm khát sự quan tâm và yêu thương. Nàng bảo, nào có phải tao gầy gò, phẳng phiu, không có sức sống đâu, mà lão chả thèm ngó ngàng gì đến. Nếu có, thì nó cũng chỉ là có cho xong. Khi nào tao dỗi, tự ái, lão chạm tay vào người tao, tao hất ra, thì ối giời, lão đi ra ngoài salon nằm ngủ luôn.

Giời ơi, sao đời tao khổ thế này, ngày nào cũng nhìn nhau nhạt nhẽo thế này. Tao nhớ cái câu thơ của bà T.T.KH: Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời/ Ái ân lạt lẽo của chồng tôi… Tao biết là lão có yêu tao thật lòng. Hay lão bị bệnh gì, mà sao lại đối xử với tao như bát nước lã thế. Tao chịu sao được, tao là người mà. Tao sẽ không thể sống đời ở kiếp với kiểu như vậy được.

Còn một đứa con với nhau, bạn tôi bảo không có gì phàn nàn về lão cả, lão rất yêu con, mọi thứ rất được. Trừ khoản sống lạt lẽo và lãnh đạm với vợ. Bỏ, thì chưa dám, nhưng sống mãi thế này, ức chế quá. Mà bạn tôi cứ rên lên với tôi, đến mệt với nó.

Một anh thì nói về vợ: “Ngày nào cũng thế, nàng chờ tôi sờ vào người, rồi nhắm nghiền mắt, kệ tôi muốn làm gì thì làm. Thi thoảng, còn cau mày, như tôi đang làm việc gì tội lỗi. Tôi cáu lắm, nhiều lúc hỏi sao, nàng bảo, có sao đâu! Thế thì thử hỏi, tôi còn dám làm gì nữa. Thôi thì cũng cho xong!”. Đấy, bảo sao không nhạt. Lẽ ra, cùng là thưởng thức với nhau trong quan hệ hai chiều, thì đằng này…

Vợ khác lại bảo: “Phải bỏ. Chả chịu được một ông 30 ngày, 30 ngày thích ăn cùng một món, hai chai bia, một đĩa lạc, và ngồi nhăm nhê cùng một thứ nhạc duy nhất, là nhạc vàng. Và dĩ nhiên, trong khoản riêng tư, cũng rất nhạt”.

Xin độc giả lượng thứ, bởi ta đang bàn về một vấn đề có vẻ trọng đại là cái nhạt, mà tôi lại nói đến cái nhạt ở trên… giường. Nhưng, đời sống con người, tình dục, là một phần thiết yếu. Lỡ gặp một người bạn đời rất lạt như vậy, cố gắng sửa chữa, cố gắng yêu, cố gắng chiều, cố gắng sống vì nhau. Nếu chữa được hết lạt thì đỡ khổ, nếu vô phương cứu chữa, thì… nhạt biết bao.

Trên thực tế, người Việt Nam rất ít khi dám cho đối tác biết đang nghĩ gì về chuyện ấy, hoặc hỏi, làm thế này, có thích không? Vẫn còn rào cản, cách ngăn, sự ngượng ngùng, ít dám thẳng thắn. Thế là hai bên cứ giữ cục nghẹn trong lòng. Rồi cái chuyện vợ chồng sinh hoạt, trở thành một nguyên nhân của các kiểu suy luận xấu xí, ngốc nghếch, và rạn vỡ cũng bắt đầu từ đấy.
***
Nhạt, đúng là một thế giới cần xâm nhập. Người xưa nói: Quân tử thường hay nhạt. Các bạn thử nghĩ xem, nói vậy đúng hay sai. Thôi, đang sống, đang tồn tại, nên chỉ hỏi thầm, khe khẽ: “Người đang nhạt, hay chính lòng mình đang… lạt!”.

Tuệ Thư

Những năm tháng phải lòng, yêu đương, cuồng nhiệt đã trôi qua sau lưng lúc nào không nhận ra. Đàn bà ba mươi có hai cuộc sống. Một là gia đình, một là khao khát. Gia đình tức là có nơi về, yêu thương con, chăm sóc chồng, vun vén cuộc sống ít vui nhiều lo âu.

Những người phụ nữ ba mươi tất bật, bình yên và quyến rũ bởi đầy đặn, bởi từng trải, bởi thành tựu và yêu thương. Có những người quyến rũ được kẻ khác bằng cả vẻ đảm đương, an phận của mình, thật lạ.

Khao khát tức là khi đã bỏ sau lưng mười năm yêu trắng tay, đã từng tha thiết, tưởng hy sinh tất cả, tưởng sẽ trời đất dài lâu, tưởng sẽ trọn đời. Rồi tuổi ba mươi đến, càng thành đạt càng hoang mang, mình đang ở đâu, ai sẽ đến trong đời mình.

Bất hạnh cho ai bị giằng xé giữa hai cuộc sống ấy, ở trong gia đình vẫn khao khát, hoặc độc thân nhưng đầy gánh nặng.
Đôi khi tôi tự hỏi tôi là ai.

Đàn bà ba mươi có quyền làm những gì tuổi hai mươi mơ ước chăng, có chứ. Có quyền lực sai khiến bằng một ánh mắt, một lời nói. Có thể thanh thản từ chối vì biết mình là ai, cũng biết tiếc nuối bởi đủ từng trải để hiểu thế nào là hạnh phúc. Biết cách lý giải cho mọi cảm xúc, biết cách đẹp, biết đàn ông cần gì.

Dường như đến tuổi ba mươi, đàn bà biết cách yêu, biết cách nồng nàn. Thứ nồng nàn đích thực mà tuổi thanh xuân không bao giờ chạm tay tới nổi.

Những người đàn bà đang đi tới tuổi ba mươi thường hoảng hốt, những người đàn bà vượt qua tuổi ba mươi rồi thường bình yên.

Bởi hiểu ra không giống như xưa, chúng ta không còn lầm lẫn giữa nhan sắc và tuổi trẻ. Và người phụ nữ nhận ra mình đẹp bắt đầu từ tuổi ba mươi, tự tin rằng những người đàn ông mình cần là những người nhận ra được người đẹp bên trong người đàn bà.

Tuần trước ngồi thương thảo hợp đồng với đối tác, bất ngờ người đàn ông thú nhận, tôi chỉ bị quyến rũ bởi những người đàn bà có năng lực, có đầu óc. Vì chúng tôi đến độ tuổi này, biết chúng tôi cần gì.

Thì ra đàn ông cũng đã phân biệt, thứ nhan sắc họ thèm và thứ nhan sắc họ cần. Đàn ông có lẽ đã như nhau, tôi thèm có được hoa hậu, nhưng tôi cần một người đàn bà đích thực ở bên.

Vậy còn điều gì đàn bà ba mươi đã thua kém chính mình khi đôi mươi? Có lẽ đó là quyền lực thanh xuân, thứ quyền lực mà đàn bà ba mươi cố tình không muốn nhắc đến nhất.

Lúc đôi mươi tôi mặc một chiếc áo sơ mi trắng dài, thật rộng và nhảy nhót, tôi thật gợi cảm. Lúc ba mươi nếu tôi vẫn nhảy nhót trong một chiếc sơ mi dài và thủng, tôi thật lập dị và gớm ghiếc.

Lúc đôi mươi tôi có quyền không son phấn ra phố, buộc tóc đuôi gà, ngồi lơ đãng bên bờ hồ tưởng tượng những lãng mạn. Lúc ba mươi, không son phấn là một cách bất lịch sự, và bên hồ, những người đàn bà chỉ ngồi để chảy nước mắt đau đớn.

Vì năm tháng đã trôi qua lặng yên, có thứ đã đến, như thành đạt, như từng trải, như tiền. Nhưng có thứ không níu nổi, như tuổi trẻ. Đàn bà ba mươi tối kỵ ngồi một mình, nghĩ một mình, làm một mình, và sống quạnh hiu.

Có một cuốn sách đầu đề là “Đàn bà ba mươi mới đẹp”, trong đó nói, cái đẹp tới từ sự độc lập, bởi họ dũng cảm và từng trải. Cái đẹp ba mươi cũng đến từ tình yêu và sự tự tin khi vứt bỏ tình yêu. Và sách nói, đàn bà càng ba mươi, càng dễ buông tay khỏi ái tình.

Tôi nghĩ những điều đó hợp lý, khi phụ nữ nhận ra họ càng quý giá, họ càng khó có cơ hội ngã vào đời người đàn ông.

Đàn bà ba mươi không yêu nổi người đã tha thiết yêu khi mười tám. Lại khao khát kết hôn với người chồng mà khi mười tám có đánh chết cũng không muốn lấy. Có người bảo, đó là bởi đàn bà đã thực tế hơn thiếu nữ, hiểu mình muốn gì. Tôi thì cho rằng đó là bởi người đàn bà ba mươi đã nếm đủ những đòn đau của cuộc sống, trong tình yêu và hôn nhân, họ sợ tương lai nhưng họ còn sợ quá khứ hơn!

Sách nói đàn bà ba mươi chỉ mơ hai thứ, chưa chồng thì mơ yêu đương nhiều hơn, có chồng thì mơ tiền nhiều hơn. Đàn bà ba mươi chỉ có yêu và tiền. Báo chí dành cho tuổi ba mươi thường là tạp chí tiêu dùng thời thượng hoặc mục tâm sự tình duyên éo le. Để đàn bà ba mươi tiêu những lo âu vào đó.

Tôi cũng đang viết cho những độc giả ấy, kín đáo hướng dẫn họ cách tiêu tiền hoặc trút những tâm tình lên giấy. Chúng ta giống nhau không phải bởi cùng bước qua ngưỡng cửa ba mươi, mà bởi đã chọn được cách dung hòa với cuộc sống. Ba mươi là lúc chấp nhận những thay đổi mà cuộc đời dành cho ta, không kháng cự, chỉ uyển chuyển lợi dụng để những đổi thay cuộc đời biến thành động lực để ta đi tới.

Tôi nghĩ người đàn bà ba mươi có năng lực hay không, chỉ phân biệt bởi điểm đó, bởi lúc vượt qua trắc trở khó khăn. Chứ không phải những người phụ nữ có xe đẹp nhà đẹp, chồng đẹp con cũng đẹp là người có năng lực, chỉ nên gọi họ là người phụ nữ may mắn mà thôi.

Đàn bà ba mươi đã thoát ra được những viển vông tuổi đôi mươi. Họ không cần lãng mạn, một sự ấm áp, một khoảnh khắc đẹp, mà mong muốn sở hữu, muốn có con, có người tình, những điều có thật trong đời.

Mơ ước của tuổi ba mươi đã thật hơn, đã không còn chỉ là mơ ước. Nên nhiều người đàn bà không nhận ra, tuổi đôi mươi rất ngại tới nhà bạn trai, tuổi ba mươi muốn để lại bàn chải đánh răng buổi sáng trong nhà bạn trai, muốn để lọ nước hoa, chai sữa tắm có mùi yêu thích ở lại nhà người yêu.

Như khi đàn bà đi, điều gì đó còn ở lại.

Bạn tôi nói, khi chia tay người yêu, đi khỏi đời nhau, cái cô ấy tiếc nhất không phải là anh bạn trai, mà là chai sữa tắm mùi vỏ cam còn để lại ở nhà anh kia. Cô ấy thích mùi vỏ cam, và với đàn bà ba mươi, chia tay nhau, thì đàn ông không còn giá trị bằng một chai sữa tắm. Mặc dù cô ấy có tiền để bất cứ lúc nào mua một chai sữa tắm khác như thế.

À, có lẽ không phải đàn ông không còn giá trị, mà bởi đàn bà ba mươi yêu ghét rạch ròi.

Hình như ba mươi là lúc đàn bà mới bắt đầu cuộc sống đích thực đàn bà?

Cảm ơn những mùi hương Elizabeth Arden, đã miêu tả đàn bà ba mươi hoàn hảo hơn một lọ nước hoa.

Trang Hạ

Em từng là vợ. Và em đã từng là người tình! Có một điều chắc chắn, đó là không vợ nào muốn chồng có người tình! Và không người tình nào muốn mình được yêu ít hơn vợ!

Có thể trên thực tế, họ đang cùng nhau chung chia một (hoặc vài) người đàn ông, nhưng đàn bà khác đàn ông ở chỗ, không ai trong số chúng em (dù có thể nói ra thành lời, nhưng thâm tâm luôn luôn đi ngược lại) công nhận rằng chúng ta chỉ là những mảnh ghép (có thể lớn, có thể nhỏ) trong đời nhau!

Đàn ông luôn phân biệt được điều đó, rằng những tham lam tài lộc, công danh, yêu đương, dục tình… hoàn toàn có thể là những thứ… không liên quan!

Vợ là để tề gia, chăm sóc con cái, cơm ngon canh ngọt! Người tình tri kỷ cho đời sống tinh thần và thể chất được cải thiện và viên mãn! Và “em út” là để cho cuộc sống có những phút thăng hoa vui vẻ! Những mảng ấy tuyệt nhiên không cần (và rất không nên) va chạm với nhau! Thế nhưng trí óc phức tạp và nhằng nhịt của đàn bà từ ngàn đời nay (bất chấp hàng triệu bài học tình ái qua các thời kỳ) tuyệt nhiên không chịu chấp nhận điều giản đơn ấy.

Chúng em luôn có cách để tự dối lừa mình, cho mình một lý do để tin tưởng vào một tình yêu tuyệt đối, tin tưởng rằng mình được yêu và sở hữu tuyệt đối, và một trong những cách dễ dàng nhất để làm được điều đó – là gán cho người đàn ông những đức tính thủy chung, phóng khoáng và si tình đầy tốt đẹp mà họ không hề có!

Em gọi đó là bản năng đàn bà! Mê cuồng! Điên dại! Thứ tha! Khờ khạo!… Thức tỉnh!
Để rồi quay lại từ đầu. Một vòng tròn đi qua hàng triệu triệu năm. Với hàng tỉ trái tim và nước mắt đàn bà!

Người thiếu nữ 16 bước vào giấc ngủ với những cơn mơ nhiều hoa hồng và mây nắng. Xứ sở bạch mã hoàng tử sẽ tự tìm đến với mình, và chỉ cần một cái nắm tay là thuộc về nhau mãi mãi. “Happy Ending” luôn là hạnh phúc bên nhau trọn đời.

Không “người thứ ba” (thứ tư, năm… hay vài trăm), không những cơn say nắng rình rập, không sẻ chia ái tình (và cả tiền bạc). Tuyệt đối. Đẹp. Và Hoàn hảo.

Rồi cuộc sống đôi lứa ập đến với đầy đủ dư vị hạnh phúc lẫn phũ phàng của nó. Bắt đầu từ đây, bản năng đàn bà dạy cho họ rằng cách duy nhất để tồn tại – đó là tự lừa dối mình, với một câu thần chú đơn giản, được thốt ra từ miệng người đàn ông: “Anh yêu em, NHẤT”.

Không có gì là vô điều kiện, nhất là một câu thần chú kỳ diệu giúp trái tim đàn bà ấm nóng thổn thức và xao động. Với người vợ, sau tất cả những cửa nhà gọn gàng, cơm ngọt canh ngon, con cái khỏe mạnh, họ hàng hài lòng… thì cơn choáng váng sau khi biết chồng có “mèo” bên ngoài hẳn là một cú sốc “không đỡ được”! Người vợ ngã quỵ! Người vợ buồn thảm! Giấc mơ hoàng tử bạch mã với cái nắm tay thay vàng đá trong giây lát tan nhanh hơn cả sóng xô lâu đài cát.

Hiện thực rụng rơi với muôn nghìn câu hỏi “tiên trách kỷ hậu trách nhân”, rằng “phải tại em đã yêu anh không đủ?”, “tại em vụng về không biết cách cư xử?”, “tại em không giữ gìn nhan sắc nên không còn hấp dẫn được anh?”…

Những cuống cuồng níu kéo, hay những điên dại ghen tuông… Dù dưới thể thức nào, thì cũng có chung một đáp số: giữ người đàn ông ở lại với gia đình! Có bao nhiêu % phụ nữ dám dứt tình chỉ vì chồng trăng gió? Con số quá nhỏ ấy có lẽ chẳng đủ để đàn bà học cách yêu mình hơn!!!

Cú sốc ban đầu qua đi! Thời gian xoa dịu nỗi đau và sự nghi ngờ! Rồi cú sốc thứ 2, thứ 3… đến! Người đàn bà học một bài học mới, hay bản năng đàn bà khát khao một tình yêu tuyệt đối chủ động đánh lừa tâm thức bằng một biện pháp mới: không là “duy nhất”, mà chỉ còn là “nhất”. Gì cũng được! Miễn là “nhất”! Rằng “dù anh có lang bang đến thế nào, nơi anh luôn luôn muốn quay về là chỗ ở bên em. Anh yêu em, NHẤT”.

Chẳng phải cái “nhất” đó đã được chứng minh bằng thực tế sao, rằng các đấng ông chồng (danh từ, thì hiện tại tiếp diễn) dù đã, đang, và sẽ luôn luôn có người tình, vẫn giữ thân xác mình ở bên vợ nhiều nhất (sau những cuộc nhậu tơi tả đến tả tơi, sau những cuộc yêu đương bên ngoài đến rộc rạc, sau những hoang tàn cạn túi và cạn sức). Và như thế, dịch ra thành thông điệp “Yêu vợ, NHẤT”.

Người tình – từ này được dùng đúng nghĩa, bỏ qua mọi khái niệm vụ lợi bạc tiền của mối quan hệ giới tính mà người ta thường liên tưởng khi nghĩ tới một người đàn ông có vợ và một người đàn bà. Người tình trong câu chuyện của em yêu người đàn ông không phải của cô ta. Yêu thực sự.

Dĩ nhiên, đã chấp nhận là người tình, thì việc phải chung chia một người đàn ông là điều tất lẽ dĩ ngẫu!

Người đàn bà chấp nhận hoàn cảnh, nhưng bản năng đàn bà trong mỗi chúng em luôn đi ngược lại thực tế hiển nhiên đó. Bất cứ khi nào bước vào mỗi cuộc yêu, đàn bà luôn mơ đến một kết nối dài lâu, một ngôi nhà, những đứa trẻ, những bữa ăn chiều rộn rã và gối chăn ấm sực giữa đêm gió buốt đông tàn…

Và sự nồng nhiệt trong việc chia sẻ chăn gối của người đàn ông thường gây cho người tình của anh ta ảo giác hoang tưởng cao, rằng giấc mơ đó sẽ có ngày trở thành sự thật. Cũng với câu thần chú nhàm chán nhưng hiệu quả mà người đàn ông khôn ngoan luôn biết sử dụng: “Anh yêu em, NHẤT”.

Truyện “Người tình” của Janusz L.Wisniewski, nhà văn nổi tiếng người Ba Lan, có đoạn viết: “Anh gọi cho tôi vào buổi sáng, vào ban ngày, thỉnh thoảng thậm chí cả vào ban đêm và nói bằng một giọng hưng phấn không thể kìm nén: “Em nghe đây, anh có chuyện này phải nói với em ngay lập tức”…

Với tôi, cho đến cuối đời, không một “Anh yêu Em” nào có thể thay thế. Tôi hiểu rằng điều đó quan trọng với anh như thế nào, bởi có một lần trong quán bia, tôi tình cờ được chứng kiến anh tranh luận gay gắt với một người bạn về đề tài “phản bội bắt đầu từ lúc nào?”.

Tôi hãnh diện khi nghe anh nói rằng phản bội bắt đầu khi mà lẽ ra vợ phải là người đầu tiên mà ta muốn nói một điều gì đó quan trọng thì ta lại “khát khao được nói ngay lập tức với một người phụ nữ khác” và “để phản bội, hoàn toàn không nhất thiết phải ra khỏi nhà, vì chỉ cần có điện thoại hay vào mạng là đủ”!

Tất nhiên, những Người tình hiện đại không bao giờ chỉ là tri kỷ tinh thần hay đồng cảm tâm hồn, những người đàn ông có vợ không thừa thời gian trốn nhà (hoặc ăn cắp giờ cơ quan) để đi đọc sách, ngắm hoa, hay hít thở hương thơm cà phê với một phụ nữ khác. Mục đích của họ rất rõ ràng, không lung lạc, không khoan nhượng.

Nhưng bản năng đàn bà với cái ước vọng mù quáng về một tình yêu tuyệt đối ở Người tình lại dẫn họ tránh xa khỏi thực tế đó, đưa lối đến chỗ: “vì nhiều ràng buộc, vì hoàn cảnh chưa cho phép, vì… nên chúng ta chưa thể ở bên nhau. Anh ở bên Vợ. Nhưng mình mới là người anh ấy Yêu nhất, khao khát nhất, cần nhất, nghĩ đến nhiều nhất, muốn được sống cùng nhất”…!…

Và Người tình – dù ít hay nhiều – cũng sẽ mất thời gian cho cơn mơ hoang đường ấy.

Cuộc sống nửa hiện đại nửa phong kiến của những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21 cấy mầm vô vàn tư tưởng nửa phong kiến nửa hiện đại trong giới đàn ông. Những phong kiến tuyệt đối trong cách coi vợ (và cả người tình) là đồ sở hữu trọn vẹn, và những hiện đại tuyệt đối về khả năng nắm bắt, cập nhật và áp dụng khoa học tiên tiến trong việc sử dụng và hướng dẫn sử dụng những biện pháp tránh thai mới nhất.

Đàn ông có trí tuệ mẫn tiệp tuyệt vời trong việc phân biệt rõ ràng mảnh ghép nào để sử dụng cho mục đích nào trong cuộc đời mình. Không nhập nhèm, không chồng chéo.

Và em gọi đó là người đàn ông tỉnh táo hoàn hảo!
Bản năng đàn bà từ hàng triệu đời nay vẫn hướng bọn em về một mái ấm thực sự là của mình, với một tình yêu tuyệt đối, và trong mọi hoàn cảnh – vẫn có cách để tin rằng Anh yêu em, tuyệt đối. (Dù thực sự nghĩa của hai từ “Nhất” và “Tuyệt đối” chẳng hề là giống nhau!).

Em đã từng là vợ. Em tin rằng anh yêu em, tuyệt đối.
Và em đã từng là người tình. Em tin rằng anh yêu em, tuyệt đối.

Nhưng nếu không là vợ!
Không là người tình!
Thì em nhận ra một cách rất rõ ràng, rằng anh (các anh) chỉ yêu chính mình thôi!

Vũ Quỳnh Hương