ru0uchat

Archive for Tháng Mười Một 2008

Ba mươi tuổi còn đương xoan, và như thế không ai nói là già vào cái thời tuổi thọ có thể lên đến một trăm như hiện nay. Vậy mà hầu như dân văn phòng nào đến tuổi này đều hơi bị khủng hoảng một chút. Như một diễn đàn của giới này mở ra, họ than: “Nghiệt ngã tuổi ba mươi!” Tại sao, tại sao nhìn thấy con số tuổi ấy là mỗi chúng ta lại bần thần ra, ai có gia đình rồi thì nghĩ mình đã làm gì cho tổ ấm, ai chưa có thì tự hỏi ta đã làm gì cho tổ quốc.
Không nói chuyện thay đổi tâm sinh lý sâu xa, chỉ cần nhìn vào ngoại hình là dễ thấy sự khác biệt của tuổi ba mươi. Đó dường như chính là mối bận tâm nếu không nói là hàng đầu của dân văn phòng thì cũng là một ám ảnh thất bại trông thấy. Khoé mắt mờ mờ vệt chân chim, cằm hơi có ngấn, tóc bạc lốm đốm, và nhất là vòng hai tăng trưởng vù vù. Ôi chao, khi mười tám đôi mươi, ăn bao nhiêu cũng không thấy no, bụng vẫn thon hơn ngực, người vẫn cân chưa lệch trước phì sau. Vậy mà vào tuổi băm, những gì xảy ra khiến người viên chức không biết làm gì hơn là vội vàng thực thi những hành động khẩn cấp để chữa cháy, cụ thể tức là vấn nạn mỡ. Cái khổ của tình trạng “bóp phanh” này mới ghê gớm làm sao: ăn không dám ăn, làm việc không dám chăm chỉ như trước, sợ ngồi lâu tích mỡ, tập thể dục với cường độ mà có lẽ vận động viên chuyên nghiệp cũng chỉ đến thế, rồi thuốc giảm béo, rồi hút mỡ, rồi quấn nóng, tắm hơi, bơi chải, lắc vòng… Một anh nhà văn chắc phải đối diện vấn đề này thường xuyên (tôi không tiện nêu tên vì rất nổi tiếng, nếu ai muốn biết, xin mật thư cho tôi), kể trong hôm ăn mừng đầy tháng con trai: “Giờ tớ mới dám kể, vợ tớ đến tháng thứ ba vẫn còn lắc vòng cho bụng nhỏ lại”. Chắc anh ấy phóng đại, nhưng có lẽ cũng có sự thật là ám ảnh vòng hai đè bẹp những tín hiệu về thiên chức của người phụ nữ hiện đại. Khoa học hiện đại cũng chứng minh sinh đẻ không phải là thủ phạm duy nhất làm cho chị em mất eo, bằng chứng là các anh chồng không phải mang bầu bao giờ mà cũng bụng to ra như thường. Cái vòng hai trứ danh, nó chẳng của riêng dân văn phòng nhưng mà hình như nó phản ánh đặc điểm lối sống và nhận dạng dân văn phòng. Có lẽ không có bộ phận nào trên cơ thể mà lại chiếm nhiều suy nghĩ của anh chị viên chức đến thế. Có người lãng mạn bảo trái tim quan trọng nhất, có người lí trí bảo bộ não, có người dồi dào tình cảm bảo “cái đó” quan trọng nhất, thế nhưng mà có cái nào tố cáo lối sống của bạn bằng cái bụng? Chị ấy tốt bụng, anh ta xấu bụng, rồi bụng là chứng chỉ của tuổi già nữa, của người bị stress nhiều, của sự ít vận động, nghĩa là kém hấp dẫn.
Nói đến đây, có lẽ chưa hẳn đúng. Người ta nói, bụng to là bụng ông địa mát trời, bụng thần tài, bụng ông Di Lặc, nghĩa là may mắn. Bụng to là bụng bia, là bụng các sếp. Mặc dù không phản đối là người nghèo cũng có thể bụng to, nhưng cặp bài trùng sếp lớn-bụng to đã trở nên phổ biến đến mức văn hào Tsekhov đã viết hẳn truyện “Anh béo anh gầy” theo ý, bụng to là anh giầu. Thử ra sân quần vợt hay rình ở cửa sân golf sẽ thấy, 80% các sếp xách dụng cụ đi vào không phải là người dây, nghĩa là cái bụng to là chứng chỉ cho việc cần chơi những môn quý tộc này. Như vậy, bụng to mà túi to thì cũng vẫn hấp dẫn, nếu không nói là hơn.
Nhưng khổ nỗi, chúng ta, những viên chức quèn, túi chẳng to mà vòng hai đã phè phè nhích dần từng centimet một, vợ chán không muốn gần cái đống mỡ lùng nhùng, chồng hãi không muốn luồn tay vào ôm cái bánh mì như thuở đôi ta hăm tư hăm lăm vào rạp tối. Chúng ta trở nên yếm thế vì sự thua cuộc với thời gian như thế. Ngước mắt nhìn lên các cô thi hoa hậu, thực ra chúng ta chỉ chăm chăm nhìn vào vòng hai nhiều hơn là soi những vòng một đồ sộ. Mở một cuốn tạp chí được dân văn phòng hay đọc ra, hình những người được chụp chả bao giờ có một vòng bụng to, trừ ông già Noel hay lực sĩ Sumo. Nguy hiểm nhất là các tạp chí ấy với thẩm mĩ lúc nào cũng ba vòng hoàn hảo khiến cho tất cả chúng ta tin rằng mọi bất hạnh và không may mắn của đời mình là từ vẻ ngoài của mình. Mà những người đẹp đẽ trên hình báo lúc nào cũng cười hạnh phúc như thể họ đang cười chúng ta, những kẻ lười nhác tội nghiệp đang chạy theo hụt hơi. Chúng ta bực dọc buồn nản đi qua tủ kính bày những manequin mặc áo hở rốn hay áo bó, nghĩ bao giờ mình được ướm lên người. Chúng ta bị ám ảnh. Bởi vì vòng hai là cái chỉ có một chiều tăng, và cái số đo nhỏ nhất có thể có của ta lại đã ở thời quá khứ mất rồi! Đàn ông gồng sức lên gập bụng trên xà tập để cho ra thân hình chữ V, phụ nữ cần mẫn mướt mồ hội phòng thể dục thẩm mĩ theo nhịp “một hai ba đá chân phải chuyển chân trái” cho cơ thể nét lại hình lưng ong. Cái eo bánh mì này, nó cồm cộm như một nỗi nhức nhối nghiệt ngã của tuổi ba mươi. Nó là của ta, là hậu quả của những ngày tháng đam mê không điều độ, là của sự ù lì thân xác. Trong khi đó, bác sĩ nào cũng nói: “vòng hai càng tăng, vòng đời ngắn lại”.
* *
*
Nhưng hình thức chỉ là hình thức nếu nó không ảnh hưởng gì đến bên trong con người bạn. Bụng to, ờ có sao đâu, già thì ai chả già, nhưng mà nói đến “vòng đời ngắn lại” là bạn đã phải nghĩ ngợi. À, thì ra ba mươi năm cuộc đời, bạn đã nghĩ đến cái dốc của sức khoẻ. Vòng hai to chỉ là phát súng báo hiệu một cuộc kháng chiến toàn diện đối với vấn đề sức khoẻ của đời văn phòng. Nó báo hiệu một căn bệnh vật chất thời đại: hãi mỡ.
Mỡ là đầu têu của tất cả những khổ đau của con người hiện đại. Nếu dầu mỏ là mối bận tâm hay xung đột của các quốc gia thì mỡ là mối nguy hại cho dân văn phòng, chẳng kém thiên thạch va vào trái đất. Nhưng mỡ lại dễ và sẵn. Nó chẳng phải từ đâu đến. Nó như con khủng long ẩn mình trong cơ thể bạn, chờ một ngày mùa thu rồi, tuổi ba mươi sơn hà nguy biến rơi chiếc lá tạch ngoài hè, ngóc đầu dậy, mượn cái xác bạn mà tồn tại kí sinh. Nó làm bạn thành khủng long mini 70kg là một chuyện, làm vòng hai ngồn ngộn lên đã đành, nhưng nó là cái biểu hiện của huyết áp cao, máu trong mỡ, tiểu đường, của bệnh tim mạch, của những cơn nhức đầu, những thứ sẽ có 99% khả năng đồng hành với bạn nửa đời hương phấn (nhưng phai sắc) còn lại. Không cần bác sĩ doạ lần thứ hai, bạn đã nhanh chóng lên kế hoạch tập thể dục cho mình. Bạn không còn thờ ơ em qua công viên phóng xe âm thầm khinh khi những bà nạ dòng đồng diễn thể dục nữa, chồng bạn không còn cười khẩy khi thấy tay đồng nghiệp nhất quyết không đụng đến một giọt bia trong cuộc nhậu. Bạn đã phải bụng mỡ bảo dạ đói: cố nhịn đi mà theo ta, mà cùng nhau ta qua cơn khủng hoảng năng lượng này. Chồng bạn đã phải gắng sức theo những đường banh ở sân quần hay gian khổ hơn, mím môi mím lợi đẩy tạ trong câu lạc bộ thể hình thay vì những nhu cầu dễ dãi khác. Tất cả vì một mục tiêu để cho cái cuộc đời còn lại có cơ kéo dài khả năng hưởng thụ cuộc sống.
Tập thể dục xưa nay có bao giờ là một trào lưu dễ lây, song bền chí cũng có những người thành chính quả. Vậy khi bụng đẹp, eo thon, thì làm thế nào? Ồ, thì phải khoe. Thời nay là thời thực dụng đến mức người ta dùng từ “khoe hàng” như một thái độ thẩm mĩ. Ta sẽ hiểu chiếc áo hở rốn hay cái quần trễ cạp có ích gì khi biết nó để khoe một vùng da thịt mang tín hiệu “thẩm mĩ”. Nhưng tuổi ba mươi, ắt không thể khoe như thế. Khoe phải tế nhị, phải hiền thục, phải đoan trang, không thể phô phang những khoảng thịt da trắng rợn mình như thế, mà đã nhìn vào là không thể cấm người ta nhìn lên trên hay xuống dưới. Vẻ đẹp không ở cái eo mà vẻ đẹp ở ánh mắt của người đối diện. Cửa sổ tâm hồn giờ đây hạ thấp dần xuống. Việc còn lại của bạn là mở ra…
Nhưng mà như thế này có chết không, hoá ra mục đích cuối cùng của vòng hai chuẩn mực là sự khêu gợi. Đạo đức của vòng hai để ở đâu? Trong khi đó, việc luyện tập đòi hỏi đi kèm những điều kiện ngặt nghèo về kỉ luật làm việc và hà khắc về chế độ ăn uống. Bạn phải kiêng khem, nhịn miệng nhạt mồm hay phải tranh thủ tập thể dục tại văn phòng theo sách, những điều khó khăn vô cùng khi quán bia với hàng quà bao vây cơ quan, khi dự án nào cũng đòi yêu cầu làm thêm giờ. Vào cái tuổi cơ thể đã ngưng phát triển, bạn cũng không thể có ngay phép mầu. Và theo thói tật của dân văn phòng, chúng ta cũng chỉ hứng chí ba bảy hăm mốt ngày. Rồi ta lại bận, thấy hình như kết quả chẳng thay đổi bao nhiêu, tác dụng chẳng thấy đâu, lại thấy mình vắng các đám vui mãi cũng kì, anh em bạn bè xa dần. Có thứ gì gắn bó đồng nghiệp hơn cốc bia hay món quà vặt ăn giữa giờ, cho dù bạn thuộc lòng lượng calo kinh khủng chúng mang lại. Bởi vì bản chất chúng ta là làm gì cũng nhằm vào mục đích nào đó, nên việc bạn đi đến phòng tập phần nhiều là do sức ép chứ thực ra, niềm yêu thích của chúng ta là nằm ườn trên giường, nhấm nháp kẹo ngon và xem những chương trình TV dễ chịu nhất. Bởi vì bản chất chúng ta ham vui, cuộc sống văn phòng biết tìm đâu ra nguồn vui ngoài những thứ rình rập nguy cơ gây nên nạn béo? Nhịn đi là mất vui, phụ nữ chỉ có mua sắm và ăn vặt tiêu sầu, đàn ông chỉ có nhậu nhẹt hạ nguồn cơn. Chúng ta chán ngán nghĩ mình đâu có giàu mà cũng phải ậm ạch với cái bụng tuổi ba mươi. Chúng ta chật vật xoay xở trong nỗi ám ảnh của mình, cái sự không hấp dẫn của mình báo hiệu bao điều ta lo sợ. Bụng ơi, chào mi.
(Nguyễn Trương Quý)
Advertisements
Lần cuối cùng bạn bắt tay sếp là khi nào? Và hỏi thật, đời bạn đã bắt tay sếp bao nhiêu lần? Có lẽ chỉ là lần bạn vô tình gặp sếp đi với bồ ở nhà hàng. Lúc ấy cái bắt tay của sếp đầy tính miễn cưỡng để ngầm nhắc bạn đừng có mà bép xép. Số lần bắt tay thì có lẽ quá ít để mà cho rằng đó là một cử chỉ có thật trên đời.
Thử ở địa vị sếp xem, bắt tay ai chứ lại đi bắt tay gã nhân viên quèn? Chả có cơn cớ gì. Nhưng ngoài cái bắt tay ra, chúng ta đã bày tỏ tình cảm với sếp bằng cách nào đây?
Đã qua rồi cái thời các sếp là những kẻ chuyên quyền, hách dịch, áp đặt quan điểm của mình lên khối nhân viên còn lại. Sếp văn phòng thời nay là những cá tính thức thời, luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu và lời hứa nghe khả thi hơn.
Song có thực hiện hay không, hình như xưa nay vẫn thế, không ai dám chắc. Với phận nhân viên như chúng ta, các sếp luôn là một vấn đề nếu không phải chính yếu trong những chuyện gắn bó với công việc thì cũng là một giá trị đại diện cho công ty. Xét cho cùng, mọi ban bệ hành chính hay luật lệ công ty lằng nhằng không bằng một sếp.
Sếp và công ty, hai mặt của một tấm danh thiếp. Sếp sẽ là minh quân khi công ty này đã đáp ứng nguyện vọng của bạn và là đối tượng bị bạn muốn chỉ trích nhiều nhất khi công ty ngược đãi bạn.

Các sếp cũng không phải kẻ quan liêu ăn trên ngồi trốc mà không biết đến những phản ứng đó. Sếp thời nay toàn dân du học khắp nơi, kiến thức thiên hạ có hai bồ thì họ cũng phải có một bồ, MBA hay bằng quản trị ở một trường bạn chỉ nghe tên đã hãi. Họ thông minh đã đành, họ lại có hình thức nữa, điều này là một nỗi phiền muộn cho các nữ nhân viên khi sếp đã có gia đình rồi. Theo cái nhìn của bạn về một con người hoàn hảo thì sếp là một minh chứng: Sếp nào cũng lịch lãm, quần áo toàn hàng hiệu, xe đời mới… lại biết đồng cảm với nhân viên. Thời nay, các sếp ít cáu hơn ngày xưa thì phải, các sếp vẫn chả giương cao ngọn cờ “văn hoá công ty”, mỗi nhân viên là một thành viên đóng góp vào tập thể đấy thôi! Và với suy diễn của bạn, gặp bao điều khó chịu, bao trở ngại đến thế mà sếp vẫn “cool”, tức là họ chả có cách nào ngoài cách phải nuốt hận vào trong. Sếp lúc này giống như MC truyền hình, cho dù người chơi dốt hay chương trình trục trặc, lên hình vẫn cứ tươi. Hết rồi thời sếp úi xùi, nhân viên đến lấm lét nhìn mặt sếp dang u ám mà thì thà thì thào đêm qua sếp cãi nhau với vợ, sáng nay bà lao công đến gặp sếp đang đánh răng ở… phòng vệ sinh.
Quan hệ giữa sếp và nhân viên theo xu thế của các chương trình đào tạo quản lý càng ngày càng được tiêu chuẩn hoá. Bây giờ bạn đừng hòng mơ lại cái thời bỗ bã, cái không khí hơi làng xã kia, nơi những chú Tư bác Bảy vẫn chỉ đạo cứ thế mà làm rồi công việc bạn cũng hoàn thành như dự định. Bạn gần như bị đặt vào một cuộc chạy đua với sếp.
Sếp là toàn năng, sếp là hoàn hảo, sếp là cự phách, và từ khi bạn bắt tay với sếp lần đầu tiên khi được tuyển vào làm, bạn thành kẻ chạy trên đường marathon cùng với sếp đến đứt hơi.
Trong thâm tâm những dân văn phòng mà lòng trung thành có nhiều, sếp là tiêu chuẩn. Khi ta mới vào làm, ta hướng đến mục tiêu “phải làm được như sếp”. Khi ta đã mệt vì chạy đường trường với sếp, ta nghĩ “hãy chỉ cần làm theo sếp bảo mà thôi”. Có phải là khi bạn phụ trách một dây chuyền thôi nhé, bạn đã rất bực bội khi nghe nhân viên dưới quyền nhem nhẻm trả lời: “Giám đốc bảo thế ạ”. Trách họ mà làm gì, sếp với họ là một hàn thử biểu, là trọng tài phân xử và nhiều khi sếp muốn là Chúa muốn.
Khi chúng ta còn thần tượng sếp, với những ấn tượng huy hoàng mà sếp tạo ra (một lòng thờ sếp kính cha thì hơi quá, nhưng ở cơ quan, ai là người ký lương cho bạn?), chúng ta đem lòng yêu sếp là chuyện rất hiển nhiên. Nó không chỉ là sự hàm ơn mà còn là một ý thức rất rõ rệt về sự an toàn của mình.
Sếp là một lá chắn bảo hộ hoặc một nơi bạn trông vào đó để làm kim chỉ nam cho hành động của mình. Bạn cũng tự dưng nảy ra tâm lý muốn bảo vệ thần tượng, cho dù sếp cũng đầy cái khiến bạn bất bình, nhưng đi ra ngoài, bạn cũng giống như những bà vợ, “xấu chàng hổ ai”, nói xấu sếp thì mình thiệt.
Phong độ là nhất thời, đẳng cấp là vĩnh viễn, bạn có nói xấu thì người ta vẫn thấy con sư tử bị thương vẫn là con sư tử chứ không hoá thành con lừa đội lốt như bạn ra sức tuyên truyền. Kết quả là bạn dựng nên một tấm ảnh của sếp như là đệ nhất phu nhân Mỹ Hillary vẫn ngọt ngào ca ngợi Bill Clinton cho dù Monica Lewinski còn sống sờ sờ ra đấy.
Lẽ dĩ nhiên, khi bạn phải đứng về phía sếp, điều ấy có nghĩa là bạn sẽ đối đầu với những sếp khác hoặc ngay với những cấp dưới trong cơ quan. Chuyện bè phái cũng xưa như là chuyện chiến tranh nóng chiến tranh lạnh, sếp ắt không thể hô một tiếng mà toàn dân văn phòng rầm rập tuân theo.
Các sếp phó, hay những người quan trọng số 2, số 3 trong công ty hoàn toàn có thể can thiệp vào những đường hướng của sếp trưởng và nghĩa là công ty có thể ngày mai sẽ khác. Vậy bạn, con muỗi trong công ty, sẽ ra sao khi những trâu bò này va quệt sừng mỏ với nhau?
Trong trường hợp này, bạn khó mà vô tình rũ áo vô can. Nếu bạn trung thành, bạn ắt phải lên tiếng bảo vệ người cầm lái của bạn. Còn không, thì tình yêu bạn dành cho sếp để đâu rồi? Hay lúc này, bạn sẽ thấy: “Ờ, đúng thật, sếp sai quá đi, thủ cựu và tệ hại” như hôm nay gió đông chuyển hướng gió Lào.
Đến đây, chúng ta ngộ ra cái tình yêu dành cho sếp ấy hoá ra cũng giống như cử chỉ bắt tay, xã giao và hờ hững. Rồi bạn bỗng thấy xung quanh, ai cũng thế hết, cứ mười người thì đến chín mang một nỗi hận về sếp. Như thể bạn đã bị tình yêu kia làm cho mù loà bấy lâu nay. Bạn đã yêu như thế nào mà ra nông nỗi ấy nhỉ?
Yêu sếp là một lẽ tự nhiên, khi bạn thấy đó là một cá tính thú vị và hấp dẫn. Cái truyền thuyết về lực hút giữa sếp phong trần hấp dẫn với thư ký chân dài thông minh được thêu dệt chỉ cho thấy một khía cạnh rất hẹp của mối tình này.
Yêu sếp cũng không chỉ có nịnh bợ, dĩ nhiên chẳng cứ sếp mà đến chúng ta cũng còn thích được khen. Định nghĩa tình yêu, có lẽ đầy đủ nên gói lại trong ý nghĩa mềm dẻo, khi đầy khi vơi, phải biết đón ý mà lựa chiều thể hiện. Nếu yêu mà đã dễ, thì các nhà tâm lý với hàng nghìn trang sách tư vấn đã không có đất để tồn tại.
Yêu sếp là kết quả của một quá trình tương tác chứ không phải là thứ sét đánh kiểu nhìn thấy nhau đã mê. Quan hệ với sếp là một cuộc chung sống để khẳng định giá trị của bạn. Sếp cũng như một vị giám khảo, tư cách của ta lắm khi phụ thuộc vào sự chấm điểm của vị này. Cái đích của dự án chưa chắc phải là bộn tiền thu về mà phải thể hiện được mong muốn, ý tưởng và giá trị của sếp trong đó.
Biết bao nhân viên phải ra đi trong khi đang ăn nên làm ra đấy thôi, đơn giản là sếp muốn họ dù quý khách hàng đến mấy cũng không thể cao hơn tình cảm dành cho sếp. Đây thực sự là một quan hệ tế nhị, bạn thử soi mà xem, hôm nay khi thực hiện kế hoạch, bạn đã khéo léo gài câu “theo sự chỉ đạo của anh Trương giám đốc, chúng ta đã đạt được mục tiêu” bao nhiêu lần?
Để nói xấu đồng nghiệp thì còn khó, chứ nói xấu sếp thì dễ vô cùng. Đơn giản là vì chúng ta kỳ vọng họ mang lại cho đời ta một cuộc sống ổn định, một sự đảm bảo lâu dài cho tương lai, nghĩa là như một người đang yêu đặt cược tình yêu vào sếp.
Một khi như vậy, nhân viên chúng ta đương nhiên mang một mối bận tâm có màu sắc chiếm hữu, và phản ứng của chúng ta là muốn được đền đáp. Chúng ta có khác gì một đám vợ bé đầy hờn ghen khi ông chồng chung – sếp này tỏ ra thiên vị một kẻ nhất định hay luôn thi hành chính sách nụ cười mị dân cho tất cả.
Bạn cần sự đặc biệt cho bạn cơ! Ôi chao, cái quan hệ như thế, cắt nghĩa đến tận cùng là một sự yêu đến vong thân. Đâu rồi cá tính và sự khẳng định độc lập của bạn?
Nhưng rồi có độc lập, có dửng dưng mà đứng ngoài cuộc yêu chung ấy, chúng ta như những cung nữ dẫu có oán hàng nghìn khúc ngâm vẫn mơ ngày xe dê của minh quân ghé đến xơi bó cỏ của mình.
Chúng ta phải nuôi cái tình yêu ấy, thắp một ngọn đèn chờ cái ngày đó, trừ khi bạn nhất định ly dị vĩnh viễn với lang quân – sếp. Khi đó bạn sẽ khâu vá trái tim viên chức của mình, đặng một ngày đặt vào một tình yêu tương tự ở một nơi đầy hứa hẹn. Sếp ở đó sẽ lại là người khiến bạn nhiều phen thót tim, lắm ca choáng váng và đôi lúc muốn nổi loạn. Tình yêu thực ở đời cũng chỉ xoay vần quanh những trạng thái đó mà thôi.
Chúng ta đều biết tình yêu bao giờ cũng tác động từ hai phía, nghĩa là ta có yêu sếp thì sếp cũng mới yêu lại ta. Cho dù ta có thầm thương trộm nhớ đi chăng nữa, cái sự yêu quý đó ắt có ngày minh chúa nhận ra, dẫu có chậm. Chứ nếu mà ghét, thì họ nhanh ngửi thấy lắm.
Bởi vì yêu là một lẽ dĩ nhiên, một phẩm chất mang tính trung thành của dân văn phòng nên các sếp mặc nhiên quên phứt đi, chỉ đến khi cái cục ghét nó lồi lên trên mắt, trên thái độ của nhân viên thì lúc ấy bệnh đã ăn sâu vào đến tủy.
Xét về mối hận không được đền đáp của nhân viên văn phòng chúng ta, có khác gì mối hận tình như phim cổ trang Trung Quốc, Hàn Quốc, đều chỉ vì không được đền đáp? Yêu mà hoá ghét thì dễ hơn là đã ghét như thế, yêu lại làm sao đây, thưa các sếp?
(Ăn phở rất khó thấy ngon – Nguyễn Trương Quý)


Hãy cho tôi biết nick của bạn là gì, tôi sẽ nói bạn là người thế nào… Nick ở đây là nickname, tức tên khai báo người dùng trong các hộp thoại trao đổi trực tuyến trên mạng, tức là chat. Mọi người nghe đến chát chít là hoảng lên, ôi, báo An ninh toàn đưa tin về hiểm họa sau những vụ làm quen qua mạng ấy, cẩn thận nhé.

Nhưng đấy chỉ là một phần tất yếu của những quan hệ xã hội, nếu nói thế, làm quen qua điện thoại hay gặp nhau nơi quán karaoke cũng chả kém phần nguy cơ. Cách đây 15 năm, video xuất hiện ở ta, mọi người lên án nó vì là nguồn phát ra những băng “vi-đê-ô đen”, rồi nó hết thời hoàng kim và ai nấy nhìn cái đầu đọc lăn lóc bụi bặm mà cười dễ dãi, trông nó hiền lành quá đi! Thế thì hãy nói đến giao lưu trực tuyến trên khía cạnh nhân bản của nó, đưa người đến với người, vừa nhanh vừa rẻ (tuy nhiên ở Việt Nam vẫn là đắt, đắt thứ 3 thế giới!), lại giúp nhiều người còn chưa đủ tự tin hay sẵn sàng để đi đến “phây tu phây”, tức f2f viết theo ngôn ngữ sms… Xin hãy nhập gia tùy tục, ở đây phải quen dần với việc viết tắt triệt để: nghĩa là face to face = mặt nhìn mặt cầm tay bâng khuâng không nói một câu, sms – short message = tin nhắn ngắn. Tức là phương tiện này rất hữu ích cho cánh văn phòng trẻ.

Vì dân văn phòng trong thế giới thực rất cô đơn, cũng như muốn chia sẻ nỗi niềm với một ai đó không phải ràng buộc lằng nhằng, thì internet giúp họ được nhiều. Ngay cả ở môi trường giao tiếp thực chẳng hạn, các phòng chat hay mail nội bộ là thứ trao đổi tin tức gọn gàng, thay vì phải ngồi một đám đông ồn ào.

Tuy nhiên, tuy chưa đến mức thành internetmania, con nghiện in-tơ-nét, nhưng mỗi ngày qua là tính phụ thuộc vào phương tiện này càng tăng. Không có cái máy tính là đã không làm ăn gì được rồi, lại không internet thì khác nào kiếm thủ đấu tay không.

Nhưng chủ đề mà tôi muốn đề cập nhân chuyện khô khan này, là chuyện yêu đương nơi công sở. Dân văn phòng một ngày đi làm thì hai bàn tay tiếp xúc với bàn phím nhiều nhất (trừ thủ quỹ hay dân ngân hàng đếm tiền mỏi tay). Cho nên cách tỏ tình, yêu đương và thất tình của họ cũng ít nhiều có cái bàn phím với con chuột dính líu.

Một cô gái thích anh, kiếm cớ gửi những mail đầy hoa lá với smiley cười cười nhấp nháy, những file powerpoint, tức dạng phim chiếu văn bản có các hình và nội dung chuyển cảnh slide (bạn thông cảm, đến mục này thì buộc chúng ta phải hiểu các từ đặc thù), có những câu như “sao bạn còn lưỡng lự, hãy bước tới và…” Bình thường cô ấy đâu có dám dạn dĩ nói lời yêu với anh đâu! Một anh chàng gửi cho nhóm độc thân một bài báo “Sợ hôn nhân – căn bệnh của giới nữ công chức” dưới tiêu đề “thế này thì làm sao mà lấy vợ được cơ chứ!!!” Sau đó là hàng chục reply của nhóm, đại khái đều thống nhất là bây giờ khó lấy nhau hơn ngày xưa mặc dù thủ tục càng ngày càng đơn giản.

Tuổi cao ý chí càng cao, nhưng duy ý chí không có được hiệu quả trong việc có ai đó đến thắp lửa tim mình. Vừa lo ế, lo muộn nhưng lại “sợ hôn nhân là nấm mồ của tình yêu”. Không hề sợ chút nào, khi mà “Kim Lâu thì mặc Kim Lâu, em đã ba đầu (ngoài 30 tuổi) em phải chạy thôi”… Lấy vợ xem tuổi đàn bà, làm nhà xem tuổi đàn ông, cô nào sao Kim Lâu chiếu năm nay là phải chờ đến mấy năm nữa mới được tuổi, nhưng đến độ đã băm mấy nhát thì các cụ cũng tháo khoán cho cả. Tiếc rằng…

Khi cảm thấy việc hôn nhân và ràng buộc pháp lý quá mệt cho tình cảm vốn mỏng mảnh dễ đứt, thì lại có người muốn có cái gọi là quyền được cô đơn hay quyền được độc thân. Không biết nhà thơ viết “cầm lá thiếp mừng đám cưới mát trên tay” là có ý gì, chứ bây giờ dân văn phòng thấy nóng giãy. Mỗi mùa cưới sang, một tuần vài ba đám là phải mừng kha khá so với tháng lương. Mà đi đám cưới thì câu đầu tiên người ta hỏi khi thấy mặt là “thế anh/chị bao giờ cho ăn kẹo đây?” Bạn đang bấn lên vì chưa có ai đi tháp tùng hay là đang chủ trương độc lập tự do, chỉ cần mấy hôm đám cưới liền được hỏi như thế, mà ai cũng tỏ thiện chí quan tâm nên câu hỏi ấy nghe đến cả chục lần một buổi, là bạn có thể ăn cỗ mất ngon hay nổi đóa lên, mua kẹo cao su cho mọi người ăn mệt nghỉ.

Nếu bạn làm việc theo nhóm hay phòng, bạn “chưa có gì” theo như quan sát của các giám thị trong cơ quan, “phòng này chỉ còn mỗi mày thôi đấy”, thì bên cạnh việc chuyên môn, những vị này còn có năng lực làm ông tơ bà nguyệt. “Tao thấy con đó được đấy, cố lên nhé”. Người được nhắc ngớ ra và thấy mất hẳn sự tự nhiên. “Dạo này thế nào rồi, kén quá đấy mà, phải thoang thoáng lên chứ, nếu chưa được như ý thì “về” cải tạo dần dần”…

Con thầy, em bạn, gái cơ quan, ba loại phụ nữ nếu lấy phải sẽ thêm những ràng buộc, cả về đạo lý lẫn vật lý. Trong đó loại thứ ba, mặt vật lý trội hơn, sự tự do của bạn bên ngoài gia đình cũng bị mất nốt, quỹ đen của bạn cũng không còn tồn tại, về nhà muốn đá thúng đụng nia cũng không có cớ để hành tỏi với nhau.

Nhưng mà cũng như những người làm văn phòng khác, tôi cũng tin ở cái tình cảm rất ma mị và đáng nghi ngờ kia, là nó sẽ giúp bạn lấy ai thì lấy, dù cùng hay khác chỗ làm, sẽ lấy phải người rất giống bạn. Tại sao tôi nói thế, vì môi trường văn phòng đúc mọi người như nhau cả lượt, không khó gì mà bạn không tìm được sự tương hợp với người bạn đời của mình. Nên tôi vẫn nghĩ, giới văn phòng tuy khó hay muộn chồng kém vợ thật đấy, nhưng mà cơ hội thì quá nhiều đi, xác suất vào chung kết không phải là ít, mà sự lựa chọn sẽ phong phú hơn hẳn những nơi trai làng “quyết tâm bảo vệ gái làng” hay “chỗ nhà ấy với nhà mình trước vẫn đi lại”.

Đấy là tình yêu của giới công chức còn trẻ, những người chưa có “kinh nghiệm” làm cô dâu chú rể hoặc mới chỉ dám thử yêu đôi ba lần không đáng kể. Còn những ai đã qua đò kha khá, nay muốn đi tàu cao tốc, sau nhiều năm chung sống, những vấn đề tình cảm hậu hôn nhân đòi hỏi nâng cấp. Chỉ cần xem qua các tạp chí trên sạp báo là đủ thấy. Chín mươi phần trăm tạp chí dành cho chị em, nhất là chị em tuổi “hơi nhừ”, với những chuyên đề “Hạnh phúc gia đình”, “Tổ ấm chim câu”, “Thế giới phụ nữ”… Muôn vẻ, từ những mẹo mực có tính thế tục như “cách nghịch những điểm nóng trên cơ thể chàng”, siêu thoát như “hãy cùng nhau ngắm những vì sao hay nằm trên cát nghe sóng biển rì rào”, vị tha như “khi chàng có dấu hiệu “ăn vụng”, bạn hãy xem lại hình thức của mình thời gian qua, khi chàng trở về hãy dịu dàng và tha thứ nếu chàng ăn năn”, hoặc thiết thực như “mình tin lạt mềm buộc chặt. Và sản phẩm này là sợi lạt ấy”. Với các ông thì quan tâm hàng đầu đến phong độ của mình, khả năng hưng phấn cùng tửu lượng liệu còn.. như xưa? Đôi khi các báo cũng là thủ phạm để dụ các anh chị vào những ảo tưởng, ví dụ một mẩu tình huống: “Bạn đi cùng gia đình vào quán và thấy người yêu cũ ngồi cô đơn bên khung cửa sổ. Bạn sẽ làm gì, đến gặp hỏi han hay là nhìn nhau ôi cũng như mọi người?”. Vấn đề là báo trả lời tuy khuyên “đành lòng vậy mà quên đi” nhưng mà không dám khuyên anh ta quyết liệt, tình cũ không rủ cũng tới hay là thế nào, mà anh đàn ông đọc lên thấy đàng nào cũng hợp lý cả, muốn được cả hai (vợ cả vợ hai, cả hai đều là vợ cả).

Rồi thì những nỉ non “mười năm tình cũ” cứ nhan nhản, kiêu kỳ như “em sẽ đến, chỉ khi nào, chỉ-khi-nào, người đàn ông trong anh bật khóc” hay bao dung như “mặt đất còn gai chông, bầu trời còn bão tố, bao giờ anh đau khổ, hãy-tìm-đến-với-em”… Sẵn sàng chưa, mọi thứ có vẻ đã được hợp thức hóa từ lâu khi cái tình yêu kia tưởng chôn sâu trong nấm mồ hôn nhân, nay được tiếp sức sống hừng hực để “hãy đến với em dù chỉ một lần nữa thôi, trong trái tim em tình yêu vẫn cháy”…

Dường như mọi thứ ở thời đại thông tin này đã sẵn sàng mọi phương tiện, mọi điều kiện cần và đủ để kết nối con người với nhau, có thêm những “bà mối ảo” – những trang tìm bạn qua mạng phong phú đón chào, chỉ cần thỏa mãn các yêu cầu ta đưa ra là có một lô những match result gửi đến, nhưng với dân văn phòng, những người tưởng đơn giản để gặt hái hạnh phúc, lại như càng khó chọn lựa. Bởi vì họ là dân văn phòng.

Bàn phím ơi, ta đã tán chuyện hơi xa cái bàn làm việc rồi nhỉ, nhưng cũng như đơn giản là một cú nhấp chuột hay gõ enter, mi đưa ta đi xa và nhanh hơn cả mong đợi, nhưng sao chuyện tình cảm nơi văn phòng cứ tiến một lùi hai thế này.

(Ăn phở rất khó thấy ngon – Nguyễn Trương Quý)

Người ta vẫn cho rằng biếu xén là một cách ứng xử đã có từ lúc con người còn sống trong thời tối cổ. Biếu xén từ lúc nào đã thành thước đo lòng người, thành một văn hóa giao tiếp.

Người ta đã có cả những câu ngạn ngữ về lợi ích thực dụng của quà biếu: Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn… Giới công sở xem ra đi đầu trong lĩnh vực thể hiện văn hóa phong bì này. Năm ngoái, chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội đã đưa ra con số tiền quà biếu của 663 đơn vị Nhà nước lên đến 4000 tỷ đồng. Còn đến các cơ quan vào dịp cuối năm, chúng ta dễ thấy cảnh kế toán hành chính ngập lụt trong danh sách quà tặng và phong bao.
Trong khi đợi các cơ quan chức năng rà soát đâu là giới hạn mang tiếng hối lộ theo “Quy chế công khai quà biếu” thì ở cấp độ cá nhân, chúng ta đã phải đôn đáo nhìn nhau mà mua quà. Chẳng hẳn là cho bằng chị bằng em nhưng thử nghĩ xem, cuối năm cơ quan nào cũng có quà cho nhân viên, chẳng lẽ mình đón Tết tay không? Chồng con ở nhà nhìn thế có khi cũng đâm coi thường mình. Thực ra ta cũng biết thừa quà Tết của cơ quan cho nhân viên không mấy khi có ý nghĩa vật chất, những gì cộm cán thì đã trông vào món tiền thưởng cuối năm. Trừ những người lương tháng vài trăm đô, được thưởng cuối năm vài tháng lương, là số ít những người không màng quà Tết đã đành, còn đa phần chúng ta vẫn phải bận tâm đến thứ này. Tại sao lại là “phải”? Bởi vì, chúng ta không muốn hai đứa con mình bị cô giáo “để ý” vì là học trò duy nhất bố mẹ không biếu gì cho cô. Chúng ta không muốn chồng mình sang năm làm việc nhỡ mất dịp cất nhắc chọn người vào vị trí quản lý mới. Chúng ta không muốn chị bác sĩ vẫn chăm sóc cho bố mình năm vừa rồi sẽ đột nhiên bận rộn khi ông cụ phải vào viện cấp cứu. Chúng ta cũng không muốn dự án của mình bị cắt nguồn tài chính ở cơ quan. Vân vân…
Một thiên la địa võng những mối ràng buộc phải lấy quà biếu Tết làm vật đánh dấu. Quà Tết là dầu bôi trơn để khử những ma sát văn phòng của chúng ta, và cũng là chứng chỉ cho một loại sát hạch ngầm quy ước. Hơn ai hết, chúng ta – phận văn phòng tép riu – mong dẹp được những cái lệ nghiệt ngã này. Mình được biếu một thì phải đi biếu trả mười. Biếu như thế nào là cả một dịp thể hiện tài năng và sự duyên dáng của chúng ta. Nếu ta còn nhớ mua quà cho người yêu đã kỳ công ra sao, thì giờ đây, chọn quà cho sếp, cho cô giáo của con, cho chị bác sĩ của bố mình, cho chỗ nào cần nhờ vả, còn công phu hơn nhiều. Với người yêu thì dẫu có giận vì món quà không vừa ý, thì cũng ba bữa là làm lành vô điều kiện (có khi giận là để làm nũng). Còn với những đối tượng kia, đố ai biết họ có thái độ gì với món quà của ta. Vì thế, mỗi khi cuốn lịch dần đi đến những tờ cuối cùng của năm, ta lại đứng trước một thử thách cam go khi suy nghĩ đến vỡ cả đầu vì mua món quà gì “có lý” nhất.
Không hiểu sao, món quà đầu tiên ai cũng nghĩ tới có lẽ là rượu. Mà chúng khẩu đồng từ, ai cũng thấy rượu Tây mới là đích đáng, cho dù đối tượng ta biếu quà có thể là cô giáo dạy lớp năm của con mình không đụng tới một giọt bao giờ. Rượu Tây từ loại nhập khẩu “đi không nhanh nhưng không bao giờ thụt lùi” (tức Johnnie Walker trứ danh với hình tượng người đàn ông chống gậy), hay các loại sâm banh Mỹ, vang Pháp, cô – nhắc Anh, những thứ rượu hàng ngày dân văn phòng chả mấy khi (được) uống, nay được dịp thuộc làu làu cả đến giá cả, độ cồn, hàng nước này đồ nước kia, cái nào mới là sành, mác nào mới là xịn. Xem ra rượu ngoại là một món quà đảm bảo được cả yếu tố văn minh, sự tôn kính lẫn đẳng cấp của người biếu. Một chai rượu ngoại có cái mác chữ Tây ngoằn nghèo trị giá từ 100 ngàn đồng của vang nho đến ba triệu đồng những Giôn xanh Giôn vàng, dẫu phù phiếm như vị chát của chất cồn nhưng lại là tấm giấy thông hành khá hiệu quả để đi vào tâm hồn người mà ta nhắm tới. Còn đi được đến đâu, phụ thuộc vào rất nhiều điều kiện khác như cách biếu, quan hệ thân sơ, và mức độ nghiêm trọng của câu chuyện ẩn sau hành động biếu quà. Thử nghĩ mà xem, thằng cu con mình học đến lớp năm rồi mà làm toán đặt ẩn số vẫn còn ngơ ngơ ngác ngác, viết văn vẫn cứ tả cô giáo em tuy hiền lành ngoan ngoãn nhưng bạn nào hư cô bắt nuốt phấn, không nhờ cô nâng đỡ kèm cặp, năm sau đừng hòng vào lớp chọn trường điểm cấp hai trung học cơ sở. Một khi cô đã nhận giỏ quà, một phong bì tế nhị kẹp giữa chai rượu với hộp bánh hay túi trà, ấy là ta đã biến món quà (có nhiều nhặn gì cho cam, tròm trèm năm trăm ngàn thôi mà) thành lộ phí cho con em mình đi xa hơn chứ không chỉ tránh bị nuốt phấn.
Chơ vơ một chai rượu dĩ nhiên chưa đủ, cũng không chung chung bánh mứt kẹo hầm bà lằng mà phải có chọn lựa. Mặc dù công nghiệp bánh kẹo nước nhà cũng khá nhộn nhịp nhưng người ta sẽ chọn kẹo nhập từ những nước bạn xa xôi. Hoặc nhân dịp này, các nhà sản xuất bánh kẹo máu mặt tung ra các loại bánh có giá cực đắt. Chả biết những loại bánh “đế vương” ăn vào có sung sướng như vua chúa không, chứ người được tặng cũng phải hài lòng khi biết mình là một trong ba trăm người ở đất nước này được biếu hộp bánh giá ba triệu đồng. Đánh trúng tâm lý đua đòi và nạn biếu xén bây giờ, các nhà sản xuất gia công hộp đựng thật hoành tráng và tung ra chương trình quảng bá rầm rộ, khiến cho đám người khốn khổ phải xem lại món quà xoàng xĩnh của mình mà thấp thỏm: “Nhỡ đâu thằng cha cạnh tranh với mình mua hộp bánh đó rồi?”
Đến những dịp như thế này, chúng ta mới cảm nhận rõ rệt rằng cái cuộc sống văn phòng của mình mang tiếng phẳng lặng nhưng hóa ra đầy rẫy những bất trắc và thiếu sự đảm bảo. Ai biết ngày mai ta gặp vận hạn gì, dự án đổ bể, con cái thi trượt, cơ quan phá sản hay “phỉ phui cái mồm”, bố chồng mình mắc bệnh tiểu đường phải vào cấp cứu? Vốn là những kẻ thực tế, chúng ta nghĩ mình phải ra tay trước khi những nguy cơ tiềm tàng ấy xảy ra. Biếu quà và nhất là quà Tết, thực tế là một cách mua lấy sự an toàn cho mình, chẳng khác gì một thứ bảo hiểm nhân thọ. Các hãng Prudential hay AIA có khéo tỉ tê lắng nghe sụt sịt thấu hiểu đến đâu cũng không lại được với cơn sốt bảo hiểm văn phòng này. Nào có ai muốn mua bảo hiểm đâu, cũng như chẳng kẻ nào nhiều tiền và thừa nhiệt tình đi tặng quà khắp nơi khắp sở, nhưng cái ám ảnh tai nạn và rủi ro khiến đám người văn phòng chúng ta không khỏi lo sợ mà vái tứ phương. Bà cô ông mãnh quỷ thần yêu tinh quấy nhiễu chưa chắc đã có thật, nhưng các thể loại người khiến ta e ngại thì có sẵn ngay trong danh bạ điện thoại của ta.
Cái lo âu của dân văn phòng chẳng dừng lại ở đó. Mỗi người một tính, mỗi sếp một sở thích, chúng ta đâu có ăn ở cùng nhà với họ mà biết họ năm nay thích cái gì. Chẳng may mua phải món quà họ ghét thì thôi rồi, sự nghiệp sắp tới của ta coi như có khả năng liểng xiểng. Mua bảo hiểm nhân thọ còn chắc chắn được giải quyết khi có tai nạn, chứ bảo hiểm văn phòng loại này, dễ tiền mất tật mang. Có khi hộp bánh ba triệu lại có sự cố như bị mốc (chuyện này đã xảy ra, mới năm vừa rồi thôi), hay cố gắng nghiến răng mua chai rượu X.O Remy Martin 1 lít đem biếu mà trớ trêu năm nay sếp lại chuyển tông sang rượu ngâm những thứ thuốc bổ dương bổ âm. Ta méo mặt khi sếp nhận quà mà thủng thẳng chỉ vào tủ rượu hoành tráng: “Đấy, nhà tớ cả một tủ các loại có thiếu gì, nhưng mấy tháng nay có đụng đến giọt nào đâu. Bây giờ uống mấy cái cổ truyền này mới khỏe. Thằng A phòng kinh doanh mới đi Vân Nam mua được mấy cân đông trùng hạ thảo về cho tớ ngâm rượu. Ba triệu một cân mà cũng lặn lội. Thôi, cậu uống một ly đi”. Ta nhấp chén rượu mà thấy rượu đắng dã man, nghĩ số phận mình rồi giống như chai rượu sẽ bị xếp vào la liệt những dãy chai lọ bị bỏ quên trong tủ kia. Ta giận mình đã chủ quan, tại sao ta lại không quan tâm đến sức khỏe của sếp hồi trong năm hơn?
Nhưng ta có day dứt cũng chẳng làm được gì. Có ở vào hoàn cảnh người được biếu như sếp mới thấy, phải gật đầu trước một lô xích xông những lời nhờ vả cùng một dây những trông cậy, chưa chắc sếp đã nhớ nổi mà giúp. Đã thế, lại rõ tội nghiệp cho sếp lắm cơ, bị chị nhà càu nhàu khi phải bỏ cả mấy ngày giáp Tết mà giải tán bớt đống quà biếu chật nhà kia. Ngay cả nhà ta cũng vậy, những gói quà Tết chình ình trên bàn như một thứ đồ chờ luân chuyển tại một sân bay quá cảnh. Chúng ta hăm hở đi biếu đồng nghiệp, anh em họ hàng, mà lắm khi cũng biết tỏng chắc gì người được biếu đã dùng được hết. Có khi món quà vô thưởng vô phạt của ông cậu sẽ được mang đi biếu một bà dì có chồng là ông chú mới lên chức. Có khi nhìn món quà đắt giá, người nhận đã nghĩ ngay đến việc dùng nó dành cho đối tượng “xứng đáng hơn” chứ chưa chắc đã dám khui chai rượu triệu bạc ra uống. Quà biếu cuối cùng chỉ còn là một loại gậy tiếp sức điền kinh, nó chỉ dừng lại khi giao thừa đã điểm.
Mua quà cho sếp cũng như cho các đối tượng chi phối tương lai của chúng ta đã thành một thủ tục đầy lạ lùng, nhưng nó thừa hưởng một truyền thống biếu xén của người Á Đông. Sống trong một xã hội cần nhiều sự bảo trợ mang nhiều nét cảm tính, những thứ như phép vua thua lệ làng được chấp nhận, thì việc đi tay không ngay cả ngày thường đến nhà người mà ta cần sự giúp đỡ cũng là điều khiến ta e ngại. Bao giờ không còn cảnh toát mồ hôi chạy từ siêu thị, lẵng nhẵng giỏ quà bọc giấy trang kim với ruy – băng đỏ chót, nín thở bước vào tư gia sếp, múa lưỡi mà nài nỉ sếp nhận cho: “Dạ, chả có gì đâu ạ. Gọi là chút quà thành tâm của chúng em”. Sếp đâu biết nỗi khổ của ta, cứ một hai: “Thôi, cô chú mang về. Thế này là phiền lắm. Đã có quy chế cả rồi”. Quy chế thì mặc quy chế, rút cục ta cũng phải tìm được cách khiến sếp nhận, mà sếp có nhận thì năm nay ta mới ăn Tết ngon được. Mà Tết đã ăn không ngon, cả năm dông là cái chắc…

Nếu ta kiên quyết không tặng quà biếu xén gì Tết này? Ta thấp thỏm lo nghĩ, không biết cái tương lai của mình, của gia đình lẫn con cái mình, liệu có vì thế mà thành địa ngục không? Ta bỗng thấy tuyệt vọng, đời mình đã tầm thường, hóa ra rút cục lại có lúc chỉ phụ thuộc vào mấy gói quà Tết mà thôi.
(Ăn phở rất khó thấy ngon -NTQ)

Ngày nay, ra ngõ gặp dân văn phòng là chuyện thường. Và một nơi ngoài văn phòng dễ gặp loại người này nhất chính là khu nghỉ mát. Thử nghĩ mà xem, những khu nghỉ mát này, trên núi hay bãi bể, những nhà nghỉ khách sạn còn trông mong vào ai ngoài đám Tây ba lô kiệt xỉ và những đoàn khách cơ quan đổ bộ đến.

Chính đám người thứ hai này mới là lực lượng tiêu dùng mạnh và là nguồn cảm hứng của cư dân những thị trấn nghỉ mát. Những thứ thực phẩm hay hàng hóa lưu niệm, họ không chỉ ăn mà còn mua mang về để làm quà và để… ăn tiếp. Chứ Tây đời nào mua những thứ lẩm cẩm ấy. Tây lúc nào cũng chỉ cần một bãi cát (thế thì ra công trường xây dựng cũng đầy cát!), nước biển mặn muối và quan trọng hơn, một căn phòng khách sạn nước không mặn. Cho nên tôi rất bất bình khi có những tờ báo viết về du lịch đã coi khách nội địa Việt không ra cái gì, chê bai và làm như họ đi đến đâu là hủy hoại môi trường khu nghỉ mát đến đấy. Họ, nhất là đám dân văn phòng, là những người đi nghỉ nhiều nhất chứ không phải những người nông dân cần cù tiết kiệm cả đời không ra khỏi lũy tre làng để nghỉ mát hay những VIP đi resort được chăm sóc như chim lồng cá chậu hay đúng hơn, cá bè nước lợ. Họ, dân văn phòng, những người không phải VIP nhưng có tư tưởng VIP, là những người tạo ra không khí của những bãi biển chỉ nóng có mấy tháng hè của miền Bắc hay quanh năm ở miền Nam. Nếu họ không đến thì nguyên sơ đấy, nhưng mấy cái vòng ốc Cát Bà hay tượng đá Non Nước làm ra bán cho ai? Nếu họ đến mà không được thoải mái hơn ở nhà hay hơn cái văn phòng sặc mùi khí máy lạnh thì họ xuống biển hay lên rừng để làm gì? Đã bảo nghỉ mát là trở về với tự nhiên, cởi bỏ những y phục công sở cứng đơ đơ để bán khỏa thân cho da thịt tiếp xúc với trời đất. Vì thế dân văn phòng nào cũng vậy, tự nhiên như hổ về rừng như cá xuống biển.
Hà Nội quá bé để chứa mấy triệu người đi làm, và một mùa hè đường phố vắng xe máy bớt người đi lại cũng nên có như một kiểu giãn dân tức thời, để rồi họ có mặt nhan nhản nơi đầu sóng ngọn gió hay sơn cùng thủy tận. Khi ấy thì bà con ở quê lại lên Hà Nội thăm Lăng Bác với ăn kem Bờ Hồ hộ. Chả nói ai cũng phải thấy đây là một sự tái tổ chức dù là tạm thời nhưng hoàn toàn có lý.
Đấy là một khía cạnh chưa được nói đến bên cạnh ý nghĩa tái sản xuất sức lao động, phục hồi năng lượng đã mất trong quá trình làm việc, và còn nhiều ý nghĩa như những gì các Công đoàn Đỏ các nước Âu Mỹ đã đấu tranh đầu thế kỷ trước. Đi nghỉ mát từ một địa vị phải đòi bằng máu đã được mặc nhiên đưa vào quy chế lao động. Vậy sau một thế kỷ lên rừng xuống biển, nay người ta và nhất là dân văn phòng, đã nghỉ mát ra sao?
Nhưng mà mở đầu như thế là hơi to tát. Chả cần đến một thế kỷ, chỉ cần vài năm đi làm là dân văn phòng biết ngay vị nghỉ mát. Chỉ cần vài năm là công đoàn cơ quan đã phải tua lại vòng căn bản. Mùa đông rét mướt kéo nhau đi đâu cũng khó, chỉ còn mùa hè bốn năm tháng đi sao tránh bão, đi sao tránh lúc nhà nghỉ không rủ nhau tăng giá. Nghỉ mát, cũng như làm việc, đã thuộc về quán tính mất rồi. Hãy cho tôi xem anh đi nghỉ mát ra sao, tôi sẽ nói anh làm việc thế nào.
Đi làm thì phải có quyền đi nghỉ mát. Đây không phải là thỏa thuận chung chung mà thành hẳn những điều khoản chắc như gạch ở trong các bộ luật lao động ở các nước dân chủ mà các nhà hoạt động xã hội thế kỷ 19 đã đổ mồ hôi nước mắt và thậm chí cả máu để đấu tranh cho công nhân. Một thế kỷ sau, đi nghỉ mát là chuyện quá sẵn, nó như một khoản chả thấy bổ béo mấy, một thứ giá trị gia tăng cho đời công sở, bên cạnh bảo hiểm y tế, tiền gửi xe được công ty trả trước hay chuyện ngồi làm việc phải có máy lạnh.
Nếu mà không có máy lạnh, nếu phải làm việc trong những xưởng thợ như công nhân thời cách mạng công nghiệp lần thứ nhất thì việc cuối tuần được đạp xe về miền quê Provence hay Yorkshire bên Tây là điều ai cũng ngóng. Nhưng bây giờ những kỳ nghỉ mát đã thành thông lệ, việc đi nghỉ hóa ra không phải là điều nhân viên văn phòng nào cũng muốn. Chả phải họ chăm. Chả phải họ cho rằng ngồi đánh máy tính phòng máy lạnh đủ mát. Mà họ không sẵn sàng đi. Trừ khi họ đã chán văn phòng và cần được thoát khỏi thành phố “đường lắm cột đèn, phố lắm ngã tư” này. Đừng sốt ruột vì tôi mãi vẫn chưa dắt bạn thoát khỏi những dòng lý sự to be or not to be/nghỉ mát hay không nghỉ mát này, chỉ để giúp bạn hình dung ra cảnh nhùng nhằng trước mỗi chuyến đi nghỉ. Bởi vì theo mục đích, sau mỗi lần nghỉ mát là một lần sức lao động được tái tạo, con người được tiếp sức mạnh để làm việc tốt hơn. Ấy nhưng điệp khúc “đi rồi mới biết đồ nhà vẫn hơn” là một liều thuốc độc tai hại, nó làm giảm đi khao khát khám phá rất nhiều. “Đi mà làm gì nếu trở về thấy Hà Nội vẫn là chốn bồng lai?” Bồng lai ư, nếu đó vẫn là cái văn phòng đóng hộp kính, chán cái chỗ ngồi chật hẹp với đám công việc buồn tẻ lắm, tôi thèm trời rộng sông dài, thèm rừng xanh núi đỏ, thèm mặt trời biển cát…
Chán thành thị và không có khả năng vui thú điền viên như những sếp có biệt thự miền quê, cánh dân văn phòng chỉ có thể bằng lòng với Cửa Lò, Sầm Sơn hay Cát Bà với những suất nghỉ mát công đoàn lo cho dưới một triệu đồng, nghĩa là không đủ tiền đi máy bay từ Hà Nội vào Sài Gòn. Thế thôi, còn đòi hỏi gì nữa, ông chủ đã cắn răng để cả công ty đình đốn công việc suốt bốn năm ngày để các người hú hí với nhau ăn mực ăn ghẹ, chân trần nhảy sóng nghịch cát, còn muốn các sếp khóc nữa hả. Ôi chao, đấy là lý thuyết, là khi người ta tuổi đôi mươi, đi nghỉ mát là một niềm vui sướng, kì nghỉ là cái gì thiêng liêng và lãng mạn. Kỳ nghỉ lúc đó còn là lúc ngực nở bụng thon, đùi thẳng tắp và tìm một chỗ đứng dưới mặt trời để… chụp ảnh. Chứ còn toàn mặt nhầu như táo tầu với nhau, ra đến nhà nghỉ công đoàn ngành là đã tính sao cho tiêu hết ba ngày để còn về. Vì đi nghỉ mát mãi rồi cũng quen. Núi Cô Tiên đền Độc Cước cây vẫn khẳng khiu nắng đến phát ngốt. Mực năm nay cũng vẫn tanh mùi tanh năm ngoái. Bia năm nay cũng vẫn bia Hà Nội chai 450ml. Tiếp viên thì vẫn một cách đón khách quen thuộc, vẫn là tiếp viên năm ngoái nhưng nay đã già thêm một tuổi, già đi nghĩa là đã trải qua một mùa du lịch tơi bời khói lửa, hết cả rào trước đón sau, hết cả hương đồng gió nội. Các em cũng như cái thị trấn nghỉ mát, như đám người đi nghỉ, rút cục tua lại vòng căn bản.
Vì thế động tác đi nghỉ mát lặp đi lặp lại một quy trình với dân Hà Nội. Sớm tắm tối mực lân la, mỗi phòng một chiếu tá lả mới là thú vui, nhất đối với cánh đàn ông. Còn các bà, lẽ nào chỉ ăn cháo lươn Cửa Lò với nhể ốc Sầm Sơn? Đến đây xin rẽ ngang. Những loại cảm xúc như “Thơ tình viết ở biển: anh xa em trăng cũng lẻ mặt trời cũng lẻ” là của một tâm trạng cô đơn vào thế kỷ trước chứ thời này, đàn ông đi biển có đôi, đàn bà vượt cạn đơn côi một mình, chả sai tí nào. Có đôi là đôi nào, đôi của những mối tình hè ngắn không đầy con trăng, chứ đôi đi cùng cơ quan là rách chuyện. Không gì có tính thanh sạch và kiêng khem hơn đăng ký cho bồ hay vợ đi nghỉ mát cùng cơ quan. Thời gian ấy là lúc quan hệ trở nên trong sáng và thuần túy ẩm thực. Cái cảnh dắt nhau ra đến bờ bể, chiều ấy ta như hai đứa trẻ, anh nắm tay em chạy giữa trưa (nhại thơ Nguyễn Đình Thi), cả cơ quan nhìn theo mà thấy ghét. Còn việc gì ngoài việc chị õng ẹo đòi anh thể hiện sự chăm sóc. Đi có đôi hợp pháp thì chưa kịp mặc áo tắm, các chị đã rung chuông báo động cho các anh đến inh ỏi. Chớ có nhìn con nhỏ mặc bikini đó, chớ có quên nắm tay để người ta tránh mình ra để không bị sàm sỡ (nhưng ai sàm sỡ chứ?), chớ có quên cầm cho em cái khăn tắm. Chỉ là để các anh nhớ rằng, chị xứng đáng là hoa hậu bãi biển trong bộ đồ một mảnh vải hoa rực cả mắt. Đó mới chỉ là một trong những vấn đề của dân văn phòng phơi bày ra dưới nắng mặt trời tháng sáu.
Liệu có xảy ra một cuộc xâm lăng của những binh đoàn văn phòng không? Người ta ra sao thì họ nghỉ đúng với phong cách con người họ chứ! Là dân văn phòng, khi xung quanh không phải là những bàn giấy mà là những bàn nhậu hải sản và máy lạnh thay bằng gió biển, họ không thể lột xác trong một ngày mà thành người miền biển hay sơn cước được. Ấy thế mà họ quen nhanh lắm, phải nói rằng trong xã hội, sau các lực lượng vũ trang “khó khăn nào cũng vượt qua” thì dân văn phòng dễ thích nghi hơn hẳn. Nếu những bà con nông dân ngại ngần chuyện đổi khung cảnh địa lý thì họ, những người tinh khôn thành thị, một dạng homo sapiens đời mới, đi đến đâu cũng tự nhiên như nhà mình. Chẳng sai, vì người Hà Nội nhan nhản bãi tắm, và để cho họ an tâm rằng mình đang “ở nhà”, lực lượng bán hàng đã  trưng những cái bảng không-sao-tin-nổi: “Bia hơi chính hiệu bia Hà Nội”. Than ôi, bia hơi thì chỉ được giao trong ngày. Mà bãi biển thì cách nhà máy bia ở phố Hoàng Hoa Thám những 400 cây số.
Vậy là đế quốc văn phòng có ở mọi nơi, như những cuộc tập huấn kết hợp nghỉ mát. Nhưng đế quốc này chẳng tồn tại lâu, cuộc vui nào cũng đến hồi kết thúc, người đi nghỉ rồi cũng trở về với đời thường hẹn một mùa nghỉ mới. Ông lão đánh cá trở về với cái máng lợn mẻ và anh chàng dân văn phòng trở về với cái bụng nhiều mỡ hơn vì bia Hà Nội nhắm với mực Cát Bà và nem chua Thanh Hóa. Trước và sau mỗi kỳ nghỉ là các phòng tập thể dục đông nghẹt. Tập trước khi đi hầu có một phom người để khoe và tập sau khi trở về để lấy lại hình hài khả dĩ. Đó là sự biến đổi có tính trực quan của một kỳ nghỉ. Bởi vì hoạt động của những kỳ nghỉ về mặt thể chất nói thẳng ra, chả có gì. Nếu không nằm ườn giam nhau trong nhà nghỉ máy lạnh kêu ro ro thì cũng chỉ là rủ nhau ta đi khai phá rừng hoang, hỏi biển khơi xa đâu luồng… đồ nhắm.
Thoát khỏi thị thành nhưng chưa chắc thoát khỏi văn phòng: đi đâu cũng gặp dân văn phòng. Hang cùng ngõ hẻm sục sạo như thể thỏa cơn khát khai quật và khai hóa (Nàng: “Eo ôi, cái gì thế này? Lạ quá anh này, ở Hà Nội không có đâu?” Chàng: “Mua làm gì, rồi lại vứt đống ở nhà”…) Hoặc hội chứng điều khiển từ xa: điện thoại réo suốt đường đi chơi. Điện thoại tình hình công việc nhiệm sở, điện thoại nhắc con rút quần áo kẻo trời mưa, điện thoại kết quả xổ số hay trận Chelsea gặp Barca cúp C1 đêm qua… Nghĩa là đường nhựa liên tỉnh chạy tới đâu hay Mobifone có trạm ở đâu, làn sóng đô thị chạy tới đó.
Thoát khỏi thành thị là thoát khỏi một cuộc sống không hẳn đã trì trệ, nhàm chán, nhưng để tìm một cuộc sống khác mới mẻ, năng động hơn cũng chưa hẳn. Nói thẳng dù hơi tuyệt vọng, đó là điều không thể có. Có lẽ mục tiêu cuối cùng là tìm ra mình, nhặt lại mình trên từng ngọn gió theo cách nói thi ca, hay tìm thấy mình đang ngồi mê mải say sưa trong những cảm xúc hồn nhiên nhất như đang ngồi sụp vệ đường mua cho được chiếc khăn thổ cẩm có họa tiết thật lạ theo hiểu biết của bạn lúc đó. Cái cô người Hmông ấy chỉ có một điệu bán hàng duy nhất là lắc đầu và cười, bạn thấy cô ấy bán hàng thật thà mà thương! Cho dù tấm khăn đấy bán đầy ở phố Tạ Hiện với giá bằng đúng cái giá bạn cuốc bộ đứt hơi vào bản Cát Cát hay Lao Chải, bạn vẫn hỉ hả sau khi đã mua được ở chợ Sa Pa trước ánh mắt tiếc rẻ của bạn đồng hành.
Thoát khỏi thị thành, đó là một trạng thái tức thời mà bạn biết mình sẽ quay về nơi đó. Đi xa, thật xa rồi bạn mới thấy mình dứt bỏ nó khó biết bao. Có những người đi xa Hà Nội, nhớ thành phố đến mức sau khi tất cả đã xuống xe, việc đầu tiên là gọi một bát phở! Dù phở Cửa Lò hay bún ốc Mai Châu dở ẹt, nhưng như thế còn có vẻ ăn chơi nghỉ ngơi du lịch hơn mấy người đến nơi đã lo tìm hàng internet để check mail. Vòng cương tỏa của con quái vật công sở thật ghê gớm. Và cuộc đào thoát của dân văn phòng, “dân được chọn” theo cách nói về dân Do Thái trong Kinh Thánh, rút cục chỉ khẳng định thêm giá trị của thị thành. Có phải đấy là Jerusalem của chúng ta, và văn phòng chúng ta là “bức tường than khóc” không nhỉ? Nói sao cũng được, nhưng rõ ràng đấy là nhà của ta, và chẳng có ai trên đời này lại không bao giờ rời nhà nửa bước. Đi thôi!
(Ăn phở rất khó thấy ngon -NTQ)

Tôi đã để ý mọi người trong những lúc về đến nhà, mà ngay cả tôi cũng vậy: vừa mở cửa, có khi chưa thay quần áo là đã vồ lấy cái điều khiển bật tivi lên.

Chẳng phải là có soap-opera nào hấp dẫn trên VTV3 hay dò kết quả sổ xố đài Hà Nội lúc 7 giờ tối, cũng không phải là có thông báo khẩn cấp sóng thần gì lúc đó. Chỉ là vì, bật lên cho nó vui nhà!
Giả dụ thật lòng, học trò làm bài văn cô giao “em hãy tả lại buổi tối ấm cúng ở gia đình em”, thì chắc phải viết “nhà em chẳng ai nói gì, bố đi làm về mặt mũi vô cảm, mẹ làm bếp chỉ nghe tiếng dằn mạnh của dao băm xuống thớt, thế nhưng khi chiếc tivi được bật lên, bầu không khí gia đình bỗng như vui vẻ hẳn”. Thế nên cái tivi, tức cái vô tuyến mới thực là đắc địa lúc này.Như thế thì tivi với các chương trình truyền hình khác nào một ông tiên với cây gậy thần, vừa mở ra là đã đem lại cả một không khí đáng yêu cho gia đình. Bố muốn tin tức, có. Mẹ muốn thỏa ước phiêu lưu, có. Con muốn được phổ biến kiến thức, cũng có nốt. Không chỉ đắc địa về mặt âm thanh, đi sâu vào mức độ ảnh hưởng, với sự có mặt thường trực bằng hình ảnh, thì trong đời sống tâm lý viên chức thành thị, quyền năng của “ông tiên” này thật ghê gớm.
Ở Hà Nội, nếu nối cáp thì có đến gần chục kênh, nhưng đá qua đá lại thấy sao đang online trên VTC  lại thấy đang hát trên chương trình âm nhạc do Mê Linh Plaza tài trợ trên VTV3, cũng bài đó, cũng đoạn đó ca sĩ giơ tay lên chứng tỏ mình đã dùng khử mùi được quảng cáo xen giữa giờ phát sóng. Đại khái tỉ lệ phim thế này. Nhiều nhất là Trung Quốc, nhưng phải biết là tính cả dài tập Mãn Thanh Đại lục, điều tra tham nhũng Quảng Châu, chưởng hài Hồng Kông, phong ba thời Dân Quốc hồi cố Đài Loan, ngây thơ tình tay ba Tàu hải ngoại nơi quốc đảo Sư Tử. Nghĩa là nhân vật chính là gốc Tàu, chiếm 40%. Tuy đến sau nhưng phim Hàn Quốc chẳng mấy chốc đã cạnh tranh dữ dội về khán giả với phim Tàu. Phim Hàn gần như độc chiếm khoản phim tình yêu lãng mạn. Rồi đến Mỹ và những nước nói tiếng Anh, không nhiều khán giả bằng nhưng được cái luôn ổn định. Còn lại một góc “giờ vàng cho phim Việt”, quảng cáo ít, xem cho phải đạo. Đó là chưa nói đến các kênh như trên khắp thế giới này đều xem, từ CNN, TV5 cho đến MTV, thậm chí một số kênh chiếu phim như HBO có bắn phụ đề Việt ngữ.
Trước đây một dạo, người ta sôi lên vì ở phố Hàng Bài, Tràng Thi hay lên Lạng Sơn, Lào Cai còn có chảo lậu hàng Trung Quốc, bắt được thêm vài chục kênh nữa, trong đó đã nháy nhó nhau là kênh 56 chiếu toàn phim tươi mát 24/24. Thế nên dù bị cấm, dù bị khoá mã phải dùng thẻ lậu mà các cửa hàng vẫn có khách hỏi mua nhộn nhịp.
Tivi chi phối thời gian sinh hoạt gia đình bạn, tất nhiên là khi ở nhà bên nhau, mắt nhìn về một hướng – màn hình. Không đùa được, chẳng phải là nhờ có truyền hình mà thành viên trong nhà hiểu nhau hơn, cả sở thích lẫn cái ghét bỏ? Trẻ thơ như búp trên cành, các cậu ấm cô chiêu còn đi mẫu giáo là độc giả trung thành từ lúc bắt đầu xem cho đến khi đi ngủ. Nhà ai có trẻ đang thời kỳ dỗ ăn đều đã biết, phải nhằm lúc phát quảng cáo là bón thúc cho thằng cu ăn mau mau chóng chóng. Chẳng cứ phải trẻ con, người lớn xem nhiều rồi cũng thuộc và đâm ra thích lúc nào không hay. Xem quảng cáo nhiều, phụ nữ nhạy cảm hơn về độ trắng của “làn da châu Á”, độ trắng của hàm răng đánh bằng kem P/S, độ trắng của tà áo dài giặt qua tám lần bằng bột “thai mới”, hay cô gái nào được các chàng trai ngoái đầu lại nhìn thì chắc chắn là vừa tắm bằng sữa Dove hay dùng Kotex White (lại trắng!) “siêu mỏng cánh”… Đàn ông lo mùi hôi miệng chưa kịp nhai Doublemint, hay đầu nhiều gầu chưa gội bằng Clear. Thế là truyền hình đã thành một hệ thống quy tắc cho giao tế xã hội.
Tivi có thể giữ chân người viên chức ở nhà hiệu quả nhất. Về đến nhà, bạn bị hút ngay vào mê hồn trận của những chương trình truyền hình, bạn khó lòng tắt ngang tivi để cho bầu không khí yên tĩnh, và cũng chẳng thoải mái nếu cố tình bỏ qua các chương trình nóng hổi để cầm một quyển sách nhiều chữ lên. Tivi đã làm hộ tất cả, bạn chỉ ngồi một cách thụ động và cứ thế, được ông tiên này êm ái đưa bạn đi từ bản tin này đến trò chơi kia, thiết lập một thói quen bình yên, mà dần làm yếu đi khả năng tìm kiếm, khả năng tự phát hiện và lật lại vấn đề. Xem tivi không bấm được nút dừng hay tua lại để bạn có thể nghĩ sâu hơn như khi đặt tờ báo xuống. Dù nhiều lúc tỏ ra không ưa cái của nợ này, nhưng xét xem, lúc ở nhà, cái phận viên chức của bạn đã làm được gì vui vẻ dễ chịu bằng cái tivi kia, chỉ mang lại niềm vui mà nếu không thích thì có thể tắt được ngay.
Những giờ đẹp của một ngày lại là những giờ tivi chiếu những thứ “hấp dẫn” nhất, và ở ta thì là lúc chiếu phim Hàn Quốc chẳng hạn. Để thỏa mãn những nỗi niềm dấm dứt vì yêu ai không thành, xoa dịu nỗi tiếc rẻ mất vụ làm ăn, lâng lâng êm ái cảnh thắng lợi huy hoàng đoạn kết, đã có phim truyền hình. Để đóng vai nhà quan sát khách quan tỉnh táo, chỉ trích tính phi logic hay dè bỉu cái sự ấu trĩ của nhà làm phim, cứ xem phim truyền hình. Là viên chức, bạn còn thất bại ở cuộc đời, bạn còn muốn xem. Càng sến, càng khiến bạn tạm quên đi sự yếu đuối của mình mà chốc lát có thể thành một đấng toàn năng. Việc cầm cái điều khiển bấm tanh tách cũng khiến bạn cảm thấy mình mạnh mẽ hơn đấy chứ!
Nghĩ đi nghĩ lại, có khi đặc sản truyền hình mang tính Việt nhất chính là phim truyền hình Việt Nam. Phim ta thế nào thì tôi cứ mượn cách đá bóng của cầu thủ Việt Nam để tả. Cầu thủ mình vốn đá thế này: thủ môn phát bóng cho hậu vệ biên, hậu vệ này chuyền ngang cho trung vệ, cầu thủ này chuyền cho tiền vệ trụ, tiền vệ này lại trả bóng cho hậu vệ cánh bên, hậu vệ này bèn lừa bóng bỏ cho tiền đạo. Sốt ruột quá, sút đi. Thì… tiền đạo bị đối phương lấy mất bóng. Trong khi đó các đồng đội vẫn chạy từ từ, hoặc là chẳng biết chơi không bóng như lời phàn nàn của ông huấn luyện viên Tây.
Giờ tôi mới tả lại cái phim tôi mới xem, và xem được đúng một mẩu có giống thế không: Chàng chạy vào sân trường. Em ơi. Chuyền bóng: Anh! Chàng nắm tay lái xe máy. Chuyền lại: Em học xong chưa? Nàng đung đưa cặp sách. Em học xong rồi. Nàng tiếp: Anh cũng nghỉ rồi à? Chàng mới giữ nhịp, đá tiếp: Ừ. Mình đi về thôi. Nàng chuẩn bị sút: Thế em đi lấy xe nhé. Chàng đỡ bóng: Anh ra cổng đợi em. Nàng chưa kịp co giò sút thì một, hai, ba, một cô bạn chạy chầm chậm từ trong lớp ra: Á à, bắt quả tang anh ả nhé. Người xem không hiểu đôi kia đã làm gì xấu, thì nữ nhân vật chính mới vung vẩy hai tay ra điều nũng nịu: Hứ, đã có gì đâu. Anh ấy chỉ đến rủ mình đi uống nước thôi mà.
Trời, chỉ có mỗi mục đích đi uống nước mà tốn nhiều mét phim quá, sau đó họ lại ngồi ở một quán café và cũng vẫn cái lối chuyền bóng một chạm, một chạm, lại một chạm rất nhịp nhàng ấy. Mà tốc độ bắn tiếng cứ tằng tằng phát một, rõ, trong và lanh lảnh đến dễ sợ, lại còn khóc cười lồng tiếng mới não làm sao! Cứ như muốn cười thì phải cù nách, khóc thì phải vả vào mồm cho sưng lên. Còn xem họ tán nhau đến sượng cả mặt.
Mà không chỉ phim tình yêu mới lề mề thế nhé, này thì phim về các chiến sĩ cách mạng vượt ngục: các anh bàn bạc rất kỹ trong tù, sau đó tốn khoảng vài mươi phút phim cảnh chạy trốn, leo tường, băng đồng… nhưng sau đó không ai bị bắn chết, tốt quá, nhưng mà cũng chẳng ai thoát, và tất cả lại bị bắt giam về đúng chỗ cũ, và lại tiếp tục đấu tranh với… tốc độ phim như cũ. Cũng như hồi bé, xem cải lương truyền hình rất sốt ruột: sao sắp bị bọn gian tà đuổi hãm hại đến nơi mà chàng với nàng vẫn nhủ rồi nhủ lại cầm tay, xuống xề mãi không chạy nhanh lên cho khuất mắt.Tivi làm thức dậy những huyễn tưởng về trí tuệ, sự hiểu biết và thậm chí  cả sự ganh đua mà có khi đã nhụt mất nơi công sở. Ngày nào cũng có trò chơi truyền hình khắp nơi. Người ta máu mê chơi đỏ đen thế nào thì trên tivi cũng ghê gớm như thế. Hành động “chị chơi / quay / đoán tiếp chứ?” đã thành một phản xạ có điều kiện. Sự khoan khoái được tắm mình trong phiêu lưu mà lại có đáp án ngay may ra cũng làm bùng lên được lửa nhiệt tình trong người viên chức vốn đã nguội ngắt sau 8 giờ làm việc. Với tivi bạn mang một ảo tưởng mình xông pha mọi hang cùng ngõ hẻm, với các chương trình có vẻ như mập mờ giữa tính trực tiếp với dàn dựng sẵn.
Có lẽ trước cái tivi, người viên chức bộc lộ mình nhiều, không kém so với nơi văn phòng. Bạn có để ý không, tivi mọi nhà thường được đặt long trọng ở phòng khách, chứng tỏ sự ghê gớm của nó. Phòng khách cũng là phòng sinh hoạt chung, mà sinh hoạt đây thì còn thứ gì ngoài xem tivi. Thế nên trong lúc chờ xin phép được đưa người yêu đi chơi, thì tôi ngồi chết dí ở salon, mắt nhìn tivi, tai nghe lời ông bố vợ tương lai, miệng nhanh trí phụ họa. Tôi đâu có biết là đang được ông cụ ngầm đánh giá tư cách qua cách bình luận thời sự. Không thể thờ ơ với cái máy nói này được, bạn sẽ mất điểm với bố người yêu. Rồi không xem thì bạn lơ ngơ như người không nắm bắt được hiện thực xã hội, hôm sau không biết đường mà buôn chuyện với đồng nghiệp. Tivi giờ đây thành ra một thứ thước đo đời sống. Buổi tối ấm cúng hay không, hóa ra nhiều khi lại phải cậy đến cái tivi?
(Ăn phở rất khó thấy ngon -NTQ)

Bạn đang là dân viên chức, vậy bạn là một phần đông đảo của cư dân đô thị. Bắt chước một câu chuyện, bạn kể thế này: Cha tôi là viên chức, còn tôi sinh ra ở thành phố…

Vâng, từ bé đến giờ, bạn đã là dân thành phố, rồi đi làm và trở thành viên chức, làm việc trong văn phòng (tất nhiên!). Thành phố hay đô thị, được coi là thành tựu của văn minh nhân loại, khác nông thôn bởi những luật lệ quy tắc riêng về hành chính hoặc xã giao. Giới viên chức – thành phần không thể thiếu được của cư dân đô thị – cũng khác với các giới khác ở chỗ có các quy định, từ chế độ lương lậu, bảo hiểm đến  giờ giấc, nội quy, v.v… Bạn thuộc về hai thế giới đó, thành ra bạn chịu gấp đôi các định chế. Về quê, bà con chẳng vẫn tự hào về bạn, người thì lịch sự thơm tho, làm gì cũng có nguyên tắc, chẳng làm đâu bỏ đấy như nông dân, lại hiểu biết về hệ thống trật tự hơn người ở nhà quê. Đến dân thành phố ngồi buôn bán vỉa hè cũng phải ngước nhìn bạn trong chiều cao mét sáu cộng guốc cao gót, váy ngắn tóc duỗi tinh tươm, mà thán phục.
Từ nhà ra đường, từ việc đi lại đến ăn uống, xem ra dân viên chức là mẫu mực và có những nguyên tắc (lại nguyên tắc!) để anh ta theo nhằm đảm bảo cho xã hội đô thị vận hành êm thấm. Nhưng hãy xem anh viên chức đã sống thế nào với chúng.Trước hết là chỗ anh viên chức ở. Nhà anh ta là căn hộ tập thể chẳng hạn, Thành Công hay Trung Tự. Cái tên “khu tập thể” đã nói hết những đặc tính cốt yếu của nó: đồng đều, bình đẳng và ngay hàng thẳng lối, chỉ có lắp ghép các thứ vào mà ở, vậy thôi. Đó là hình mẫu của thập niên 1970, khi căn hộ chỉ cao có 2,8m, lan can thấp dưới 90cm, mà dân thiết kế bật mí rằng các chỉ số bê nguyên xi quy chuẩn Liên Xô lúc ấy về. Nhưng viên chức Việt Nam nhỏ người, kích thước nhân trắc học chỉ bằng 3/4 người Nga, nên các con số cứ tự động bằng ba phần tư mà thành. Theo quy luật phát triển, người Việt bây giờ có to cao hơn (cao hơn 5cm so với hai mươi lăm năm trước), tuy đầu chưa cộc vào dạ cửa vì vẫn chưa qua ngưỡng mét sáu lăm, nhưng nhân khẩu tăng lên, và nhất là nhiều tiện nghi hơn xưa, lại toàn tiêu chuẩn Mỹ. Mà Mỹ thì to. Căn hộ hai buồng thênh thang 36m2 cơ quan phân phối một thuở, vào cuối thế kỷ 20 đã thành chuồng thỏ.
Điều gì đến đã phải đến, khu tập thể anh viên chức ở bây giờ rơi vào cảnh không khác cái mớ bùng nhùng: nhà anh và căn hộ hai bên và trên dưới đều có những cái lồng cấy ra thêm tăng diện tích. Sân chơi thì thành chỗ họp chợ hay chỗ để xe, diện tích chẳng còn gì. Những khoảng lưu không giữa hai dãy nhà hẹp lại vì các hộ tầng dưới xây lấn ra. Nếu anh viên chức ở nhà riêng thì cái nhà anh như một hộp diêm kín mít chỉ hở mỗi mặt tiền. Anh vừa dắt xe ngoài ngõ vào nhà là vội vàng kéo ngay cửa sắt lại, khóa cách biệt với bên ngoài. Nhà anh ta không bao giờ chịu cao bằng hoặc cùng màu sơn với hàng xóm hay cả dãy cả. Nói chung, quy tắc xây dựng đối với anh viên chức không quan trọng bằng việc thể hiện tinh thần làm chủ tuyệt đối không gian cá thể gia đình anh ta, dù trái nguyên tắc quy hoạch đô thị. Hóa ra khu anh cư trú cũng có nhiều người như anh. Nó chẳng khác một cái làng bê tông là mấy.
Khi có cơ hội thoát khỏi cái “làng” này, người viên chức cũng lại chọn cho mình một kiểu mẫu cư trú được cho là “đột phá” hơn: căn hộ chung cư khu đô thị mới. Nói không ngoa, loại căn hộ mới này là chủ lực cơn hôn mê bất động sản ở Hà Nội dăm năm trở lại đây. Tại sao người ta lại chọn nó? Người ta nói, nó có các thiết chế ngăn nắp, có quy củ, có rộng hơn khu tập thể. Nhưng xem xét kĩ, nó cũng chỉ hơn ở chỗ có thang máy, và theo cách nói bây giờ, nó “hoành tráng” hơn! Thảnh thơi bấm nút tầng mười lăm văn minh hơn nhiều so với phì phò dắt xe leo dốc giữa thang bộ lên tầng năm chứ!
Vì đi bằng thang máy nên ở những tòa nhà mới này, dân viên chức về đến nơi thì mắt trước mắt sau tìm mọi cách leo lên căn hộ, nơi sự khép kín đảm bảo tuyệt đối, và kiểu mẫu mới lúc này là đèn nhà ai nhà nấy rạng. Mà có liếc ra đèn nhà khác thì cũng chỉ thấy những cánh cửa nằm im lìm quanh sảnh thang máy.
Trong những căn hộ này, gia đình dân viên chức buổi sáng mở mắt ra, việc đầu tiên là chia sẻ nhà vệ sinh duy nhất, y như lúc còn ở nhà tập thể. Rồi gia đình ấy với hàng chục gia đình khác lại chen chúc sốt ruột đợi thang máy bằng mọi giá thoát ra khỏi tòa nhà. Căn hộ chung cư vắng ngắt suốt một ngày, đợi đến tối mịt mới nhộn nhạo quanh mâm cơm hay TV bốn tiếng đồng hồ. Câu chuyện buổi tối của gia đình viên chức đại để cũng vẫn mang cốt lõi nội dung của một thời giá-lương-tiền. Nó giống như bản tin thời sự trên TV, có khác là loại bản tin gia đình làm lấy này khoanh vùng ở những lĩnh vực liên quan trực tiếp đến mình. Chị vợ phát lại tin tức thu lượm trong chuyến đi chợ chiều nay về thịt lợn dịch, anh chồng tranh thủ cho cả nhà biết tin tức cổ phiếu vẫn chưa lên, con cái “dự báo thời tiết” trường lớp kì này thi tốt nghiệp nửa số môn học. Có khách đến, chủ đề cũng không có gì thay đổi: “Vâng, hôm nay nhà em cũng không ăn thịt lợn, trứng chồng em vẫn ung (trứng nghĩa là chứng khoán), con em thi vào chuyên ngữ đấy ạ”. Cho dù có update thêm vài chi tiết: chứng khoán, internet,… nhưng cái sườn cơ bản vẫn là một khuôn mẫu quen tai như thời trước.
Chu trình sinh hoạt, tóm lại, không thay đổi gì so với thời bao cấp, cho dù để mua được một căn hộ chung cư mới thời nay gần như là một kì tích. Giá các công ty nhà đất đưa ra khoảng 6 triệu đồng/m2 nhưng tôi chưa thấy ai mua được giá đó cả. Như bây giờ, giá một mét vuông căn hộ khu Trung Hòa Nhân Chính không dưới 14 triệu, nhưng đừng vội đi tìm vì căn hộ từng là niềm ao ước của dân Hà Nội ba năm về trướcthì nay không có mà mua. Tuy thế, kiểu mẫu này cũng không còn tráng lệ nếu so với The Manor hay Ciputra, những nơi có giá lên đến 2000 đôla/m2, tức 32 triệu, nhất là phòng ngủ nào cũng có vệ sinh riêng, khỏi xếp hàng buổi sáng. Một tháng lương viên chức cỡ 3 triệu là khá, vậy thì một căn hộ cao cấp 75m2 là hơn 2 tỷ đồng, bằng 60 năm đi làm. Người viên chức đành giật lùi về căn hộ kém tiện nghi hơn, 700 triệu, hay là 20 năm lương, dù chỉ có một toa-let.
Nếu vấn đề của anh viên chức ở nhà là xoay quanh số mét vuông với số toa-let thì ở ngoài đường là cái đèn đỏ. Thành phố hơn nông thôn ở chỗ có đèn xanh đèn đỏ, hay có nhiều cảnh sát giao thông, rồi các quy định đi lại. Ấy thế mà, rình cơ hội là anh viên chức kia vượt đèn đỏ hay rẽ ngang rẽ ngửa sao cho tiện hoặc nhanh hơn cái thằng cha bên cạnh. Trên đường phố đô thị giờ đi làm hay tan tầm chủ yếu là dân viên chức, tiếng thì hiểu biết luật lệ hơn người khác, nhưng tại sao hở tí là tắc, và khi mỗi xe máy cách nhau chưa đầy nửa mét thì không va quệt mới là lạ. Mỗi lần va quệt là một lần anh viên chức phải vận dụng khéo léo chút tí teo bản năng hung hãn còn sót với rất nhiều sự mưu mẹo để hành xử cho yên thân. Có thể sau này con cháu chúng ta sẽ không hiểu nổi, vì sao phải mất 6 năm từ khi Luật Giao thông đường bộ ra đời, chúng ta mới chịu đội mũ bảo hiểm, mà chỉ đội vì bắt buộc phải đội. Và những kẻ đội mũ bảo hiểm cuối cùng vào cuối năm 2007 này chính là giới viên chức thành thị. Từ trước đến giờ trên phố, cái xe nào mà người cưỡi đội “nồi cơm điện” thì đều là của dân ngoại tỉnh. Anh viên chức không muốn tỏ ra nhà quê đã đành (chẳng hạn “không đội mũ trông ra dáng phóng xe đi chơi hơn”), nhưng tai nạn mà đập đầu xuống đất thì có chừa quê hay tỉnh đâu? Thâm tâm anh viên chức thấy thế cũng phải, nhưng mà còn cứ mượn những lý do ngoài luật để phản đối, như thể người ta đã làm khổ đời mình vì cái mũ bảo vệ cái đời ấy. Anh viên chức phóng xe trên đường phố có khác nào anh nông dân cưỡi trâu ra đồng, đường phố cũng như trong thơ Huy Cận, đường trong làng hoa dại với mùi rơm vậy.Ngay như trong thế giới của chính mình, anh viên chức cũng lắm khi tuỳ tiện. Mỗi khi có việc gì cần giải quyết mà kho khó một tí, điều đầu tiên mà anh nghĩ  đến là nhớ xem có ai quen biết làm ở khâu ấy khâu kia để nhờ vả. Thời nay, mấy ai còn đi đường thường, xếp hàng nơi cổng chính, đợi ba tiếng đồng hồ hay mất vài ngày. Thể nào lục máy điện thoại cũng mò ra vài “người nhà” để được chen vào trước. Rồi còn gửi gắm, nào là đi khám bệnh thì phúc đức gặp bác sĩ y tá quen thân, hoặc làm thủ tục dấu má cứ phải mồm năm miệng mười xưng xưng em là A người nhà chị B đây ạ. Tất cả xoay tròn trong một vòng tuần hoàn như thế, móc nối làm thành một hệ thống “nhất thân nhì quen” nhùng nhằng hơn gia phả. Lúc ấy mới nhớ tới cái nguyên tắc chung nào đó lại bị chính cái anh tưởng nguyên tắc nhất là viên chức đem vứt béng đi đâu.
Nguyên tắc thì cũng là do ta đặt ra, trên cơ sở thỏa thuận và phù hợp với nguyện vọng toàn dân, trong đó dân viên chức xứng đáng được trông đợi là người thực thi mẫu mực nhất. Thì đời anh ta ngăn nắp thế kia cơ mà! Vậy mà cái phong thái kiểu mẫu với những nguyên tắc ấy bị vi phạm dễ như không. Mà như thế, nguyên tắc còn có ích gì ở đây nếu như chúng liên tục bị vi phạm như thế? Anh viên chức cũng đã có lúc liều dẹp nguyên tắc đi, anh cũng thấy nó có hơn gì đồ chơi đâu. Mà dẹp được, dễ dàng là đằng khác nếu như vận dụng sự khéo léo như lúc anh đi xe máy ngoài đường ấy. Miễn là có lợi. Dẹp một lần, rồi chả mấy chốc gác luật lại nhiều lần, lâu dần hình thành phản xạ “lách luật có điều kiện”. Điều này thậm chí còn phản ánh ngay từ hệ thống văn bản dưới luật, cái hệ thống mà có nhà chuyên môn tỉ mẩn công bố cuối năm 2006 khiến mọi người ngã ngửa: có đến hơn 400 văn bản có dấu hiệu trái pháp luật. Hãy lấy ví dụ cái vật nhiễu sự nhất cho luật liên quan đến dân viên chức – vẫn cái xe máy. Phi xe máy bất thành viên chức, xe máy nhiều đến mức gây tắc đường, ngành cảnh sát giao thông quản lý không nổi nên năm 2003 cơ quan cấp đăng ký phải hãm lại bằng việc tạm ngừng đăng ký xe máy ở các quận nội thành Hà Nội. Trong khi các cơ quan hãy còn tranh luận sự vi phạm Hiến pháp về quyền sở hữu tài sản của công dân, thì dân viên chức đã đổ xô đi đăng ký biển ở các tỉnh khác và mua dưới tên người khác, vì ”đăng ký được là tốt rồi, đít Hà Nội hay đít Hà Tây không thành vấn đề!”. Kết quả là nhà quản lý phải ngậm ngùi mà tổng kết sau hai năm 2003-2004, chính quyền thành phố đã thất thu 100 tỷ đồng, với số xe “đúng tuyến” tăng lên 180.000 xe trong khi số xe biển “trái tuyến” cũng ngang ngửa chừng ấy. Và đến nước này, người ta lại định cấm xe biển ngoại tỉnh vào Hà Nội… May quá (hay là không may), bây giờ không ai cấm gì nữa, nhưng xe máy đã kịp tăng lên hai triệu chiếc, và dân viên chức đã kịp đổi đời xe số tròn Dream lên xe tay ga có cốp rộng đựng đồ đi làm.
Đời anh viên chức loay hoay sống với những cách thức tồn tại “lách luật” như thế, nhiều khi anh ta cũng muốn tìm cách thoát ra khỏi. Nhưng sống quá lâu với sự tùy tiện, anh ta còn biết làm gì hơn là làm xiếc với những định chế mình đang theo. Viết hóa đơn thanh toán cho cơ quan, cốt yếu là phải khớp các sổ sách nhịp nhàng chứ con số thực “chỉ cánh văn phòng chúng mình biết với nhau, thật thà có mà ăn cám”. Kiểu mẫu của anh viên chức, xét cho cùng cũng như những con số dễ thay đổi kia, cộng trừ nhân chia sao cho tương hợp với sự sinh tồn của anh ta. Nếu trách cứ họ làm gương xấu, thì câu trả lời là cái nhún vai mà rằng: “Sự sinh tồn mà đã ổn, thì kiểu mẫu nào chúng em cũng chiều, các bác ạ”.
 (Ăn phở rất khó thấy ngon -NTQ)